biệt chú trọng hơn. Nhiều câu hỏi đã đợc đặt ra: Tại sao Mỹ lại nhập cà phê và
xuất lơng thực? Tại sao Nhật lại xuất hàng công nghiệp và chỉ nhập nguyên liệu
thô? Tại sao một nền kinh tế kém phát triển nh Việt Nam lại có thể hy vọng đẩy
mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu? Lý thuyết lợi thế so sánh của nhà kinh tế học
David Ricardo (1817 ) đã giải thích một cách căn bản và có hệ thống những câu
hỏi này.
Theo thuyết lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so
với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm, thì quốc gia đó
vẫn có thể tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu để tạo ra lợi ích của mình.
Nghĩa là, nếu quốc gia này tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu thì nó có
thể thu đợc lợi ích không nhỏ. Khi tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu,
quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất tất cả các loại hàng hoá sẽ chuyên môn
hoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng có ít bất lợi
nhất ( đó là những hàng hóa có lợi thế tơng đối ) và nhập khẩu các loại hàng
hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi lớn nhất ( đó là các hàng hoá không có lợi
thế tơng đối ). Khi tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu, các quốc gia này
sẽ thu đợc lợi ích không nhỏ.
Lý thuyết lợi thế tơng đối ( hay so sánh ) của David Ricardo đã giải
thích đợc cơ chế lợi ích khi kinh doanh xuất nhập khẩu diễn ra giữa các quốc
gia có điều kiện sản xuất khác nhau. Tuy nhiên, ngời ta cũng thấy rằng, kinh
doanh xuất nhập khẩu vẫn diễn ra giữa các quốc gia khi giữa chúng có các điều
kiện sản xuất khá giống nhau. Chẳng hạn, sự trao đổi buôn bán ô tô là khá phát
triển giữa Mỹ và Nhật; điều tơng tự cũng xảy ra đối với mặt hàng điện tử giữa
các nớc Tây Âu. Rõ ràng là, không có thế lực nào bắt buộc hai nớc phải buôn
bán với nhau nếu một nớc không có lợi. Các quốc gia hoàn toàn tự do trong việc
lựa chọn mặt hàng cũng nh đối tác buôn bán có khả năng đem lại lợi ích cao
cho họ.
Những lợi ích mà kinh doanh xuất nhập khẩu đem lại đã làm cho th-
ơng mại và thị trờng thế giới trở thành nguồn lực của nền kinh tế quốc dân, là
nguồn tiết kiệm nớc ngoài, là nhân tố kích thích sự phát triển của lực lợng sản
xuất, của khoa học công nghệ. Kinh doanh xuất nhập khẩu vừa là cầu nối kinh
tế của mỗi quốc gia với các nớc khác trên toàn thế giới, vừa là nguồn hậu cần
5
cho sản xuất và đời sống của toàn xã hội văn minh hơn, thịnh vợng hơn. Chính
vì vậy, nó đợc coi là bộ phận của đời sống hàng ngày.
Nhận thức rõ ràng những điều đó, Đảng và Nhà nớc ta đã có những bớc đi
đúng đắn trong đờng lối đối ngoại của mình. Với chính sách đa dạng hoá và đa
phơng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế, mở cửa đã làm cho nền kinh tế nớc ta
sống dậy, hoạt động ngoại thơng trong những năm qua đã thu hút đợc những
thành tựu đáng kể. Chính vì vậy, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta đã
khẳng định " Tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa
phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc
lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt song phơng và đa phơng với các nớc, các tổ
chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thơng l-
ợng." ( Văn kiện Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam ).
2.Các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu
2.1 Các hình thức nhập khẩu
- Nhập khẩu uỷ thác
- Nhập khẩu trực tiếp
- Nhập khẩu đổi hàng
- Nhập khẩu tái xuất
2.2 Các hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu hàng hoá dới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản
xuất và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ, vật t phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu- tạm nhập tái xuất.
- Các dịch vụ nh làm đại lý, uỷ thác cho các tổ chức nớc ngoài.
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nớc ngoài.
6
3.Nội dung công tác xuất nhập khẩu hàng hoá ở các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu .
3.1 Nội dung hoạt động xuất nhập khẩu .
Thông thờng nội dung hoạt động bao gồm các nội dung sau:
3.1.1. Nghiên cứu thị tr ờng
Khác với mua bán trong nớc, kinh doanh nhập khẩu diễn ra trên thị tr-
ờng thế giới, ngời kinh doanh thờng ở các nớc khác nhau, hàng hoá buôn bán đ-
ợc chuyển qua biên giới của mỗi nớc,mỗi nớc lại có một chính sách, thể lệ và
tập quán thơng mại khác nhau. Ngời kinh doanh phải giải đáp nhiều câu hỏi nh:
Mua bán hàng hoá gì ? ở đâu ? với ai ? vào thời điểm nào ? giá cả và chất lợng
ra sao ? thanh toán bằng hình thức gì, đồng tiền nào ? Công việc nghiên cứu
thị trờng bao gồm:
a1. Nghiên cứu thị trờng trong nớc
Trớc hết doanh nghiệp phải nắm chắc tình hình trong nớc về các mặt
có liên quan đến việc xuất nhập khẩu
- Nhận biết hàng hoá xuất nhập khẩu
- Doanh nghiệp nắm chắc các chính sách, chế độ tập quán của nớc liên
quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá.
a2. Nghiên cứu thị trờng nớc ngoài
Nghiên cứu thị trờng nớc ngoài theo các khía cạnh chủ yếu: đặc tính
hàng hoá, thị hiếu của khách hàng, chính sách tập quán thơng mại, tình hình tài
chính, tín dụng, điều kiện chuyên chở và bốc xếp, nắm chắc các điều kiện về
phẩm chất và chủng loại hàng, đặc tính thị trờng nh dung lợng thị trờng, giá thị
trờng.
7
a3. Lựa chọn đối tợng giao dịch.
Trên cùng một thị trờng, cùng một loại hàng có rất nhiều nhà kinh
doanh khác nhau, vì vậy khi lựa chọn cần tìm hiểu về: thái độ chính trị của đối
tợng giao dịch, khả năng kinh tế , loại hình doanh nghiệp, phạm vi kinh doanh,
vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của đối tác , uy tín của đối tác trên thị trờng đó.
Lựa chọn đối tợng giao dịch nên dùng các phơng pháp nh qua sách báo, tài liệu,
qua t vấn của nhà nớc , qua điều tra trực tiếp hoặc buôn bán thử để tìm hiểu dần.
3.1.2. Lập ph ơng án giao dịch
Lập kế hoạch cụ thể để tiến hành hoạt động giao dịch gồm nhiều chi
tiết trong đó có các vấn đề sau:
- Lựa chọn mặt hàng kinh doanh xuất hoặc nhập khẩu
- Xác định số lợng hàng xuất hoặc nhập khẩu
- Lựa chọn thị trờng - khách hàng - phơng thức giao dịch .
- Lựa chọn thời điểm, thời gian giao dịch.
- Các biện pháp để đạt mục tiêu lựa chọn trên nh chiêu đãi, mời khách,
quảng cáo, đầu t xây dựng cơ sở vật chất
- Những tính toán để luận chứng cho các mục tiêu và các biện pháp trên
dự báo kết quả công việc giao dịch phải xác định.
3.1.3. Giao dịch, đàm phán tr ớc khi ký kết hợp đồng.
3.1.4. Ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng
mua bán ngoại thơng. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các
đơn vị xuất nhập khẩu của nớc ta trong quan hệ với nớc ngoài
3.1.5. Tổ chức thực hiện hợp đồngxuất nhập khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
3.2 Quy trình xuất nhập khẩu hàng hoá.
8
Quy trình xuất khẩu hàng hoá đợc biểu diễn qua sơ đồ sau:
Quy trình nhập khẩu hàng hoá đợc biểu diễn qua sơ đồ sau:
9
Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu
khâu
Tạo nguồn hàng và khách hàng xuất khẩu
Những thủ tục cần thiết cho hợp đồng xuất khẩu
Buộc bên nhập khẩu mở L/C nếu thanh toán theo L/C
Xin giấy phép xuất khẩu
Chuẩn bị hàng xuất khẩu
Thuê tàu lu cớc nếu giá CIF
Tkhẩu
Kiểm tra chất lợng hàng xuất khẩu
Mua bảo hiểm
Làm thủ tục hải quan
Giao nhận hàng với tàu
Làm thủ tục thanh toán
Nếu nhập khẩu uỷ thác thỉ từ bớc thủ tục hải quan ta thêm bớc:
10
Lựa chọn đối tác
Ký kết hợp đồng
Những hớng dẫn cần thiết làm giấy tờ thủ tục
Mở tín dụng
Phái tàu đến tiếp nhận vận chuyển hàng hoá
Làm bảo hiểm vận chuyển hàng hoá
Hàng đến
Kiểm tra chứng từ và trả tiền
Thủ tục hải quan
Khai báo hải quan Nghiệm thu hàng hóa Làm thủ tục hải quan
Bồi thờng nhập khẩu
4. Vai trò xuất nhập khẩu trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại
hoá ở nớc ta.
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân
phối và lu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục
đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Hoạt động đó
không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ
thống kinh tế với sự điều hành của Nhà nớc.
Chính vì vậy, xuất nhập khẩu có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội một nớc phát triển nh thế nào
phụ thuộc rất lớn vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh này. Thông qua xuất nhập
khẩu có thể làm tăng ngoại tệ thu đợc, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu
cho ngân sách nhà nớc, kích thích đổi mới công nghệ, tiếp cận đợc phơng thức
quản lý và kinh doanh mới, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm,
tạo sự cạnh tranh của hàng hoá nội và ngoại, nâng cao mức sống của ngời dân.
Đối với những nớc mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp nh nớc ta,
những nhân tố tiềm năng : tài nguyên thiên nhiên, lao động. Những yếu tố thiếu
hụt : vốn, kỹ thuật, thị trờng và khả năng quản lý. Chiến lợc xuất nhập khẩu có
vai trò quan trọng đối với nớc ta, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá- hiện
đại hoá hiện nay. Về thực chất chiến lợc này là giải pháp mở cửa nền kinh tế
11
Giao hàng
cho khách
hàng
Quyết toán
bằng ngoại
tệ
Thời gian
quyêt toán
Tính ra tiền
trong nớc (theo
nội tệ )
Khách hàng nhận, kiểm tra, xử lý
Nhận tiền hoa hồng ( tiền mặt hoặc chứng từ)
Thời kỳ thanh toán chứng từ
nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nớc ngoài, kết hợp chúng với tiềm năng
trong nớc về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trởng mạnh
cho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nớc giàu.
Với định hớng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh tế
đối ngoại nói chung và thơng mại nói riêng phải đợc coi là một chính sách cơ
cấu có tầm quan trọng chiến lợc nhằm phục vụ quá trình phát triển của nền kinh
tế quốc dân. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ đợc tới mức cao nhất
nguồn vốn kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của nớc ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển, giải quyết việc làm cho ngời lao động.
I. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất
nhập khẩu.
1. Quan điểm về hiệu quả.
1.1. Hiệu quả kinh doanh
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác
nhau để xem xét. Nếu xét theo hiệu quả cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu
số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó, trong đó kết quả
chỉ phản ánh kết quả kinh tế thu đợc nh doanh thu bán hàng. Đứng trên góc độ
này thì phạm trù hiệu quả đồng nhất với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh
doanh cao hay thấp tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức hoạt động sản xuất kinh
doanh và tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp.
Nếu đứng trên góc độ yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả thể hiện
trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất và kinh
doanh, nó phản ảnh kết quả kinh tế thu đợc từ việc sử dụng các yếu tố tham gia
vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp phản ánh trình độ
lợi dụng các yếu tố tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh đồng thời là phạm
trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, phản ánh trình độ của nền sản xuất
hàng hoá, sản xuất hàng hoá có phát triển hay không là do hiệu quả đạt đợc cao
hay thấp, chỉ tiêu hiệu quả phản ánh cả về mặt định lợng và cả về mặt định tính.
Về mặt định lợng, hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh phản ánh mối tơng
quan giữa kết quả thu đợc và chi phí bỏ ra. Về mặt định tính, nó phản ánh ảnh
12
hởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu
và mục tiêu kinh tế, những mục tiêu và yêu cầu chính trị - xã hội.
Khi đứng trên phạm vi khác nhau để xem xét vấn đề hiệu quả thì có thể
chia hiệu quả ra nhiều loại khác nhau:
- Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem
xét thì phạm vi hiệu quả sẽ là hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả chính trị. Cả
hai hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội đất
nớc. Trong thời kỳ bao cấp nớc ta quá coi trọng hai hiệu quả này trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay thực hiện nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp nhà nớc bên cạnh việc bảo đảm hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh
doanh cần phải chú ý đến hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả chính trị. Đối với
các nớc t bản chủ nghĩa, các doanh nghiệp hoạt động đều nhằm mục đích hiệu
quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh, còn một số doanh nghiệp nhà nớc nhằm
thực hiện một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội.
- Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì có
phạm trù hiệu quả kinh tế và phạm trù hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế là những lợi ích kinh tế đạt đợc sau khi bù đắp các
khoản chi về lao động xã hội. Hiệu quả kinh tế đợc xác định thông qua so sánh
giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh với chi phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt
đợc từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh
chính là hiệu quả lao động xã hội đợc xác định bằng việc so sánh giữa lợng lao
động hữu ích cuối cùng thu đợc với hao phí lao động xã hội.
Nh vậy đứng trên các khía cạnh khác nhau ngời ta có thể có quan
điểm về hiệu quả khác nhau. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý khi giải quyết
vấn đề hiệu quả cần phải kết hợp hài hoà giữa lợi ích trớc mắt với lợi ích lâu dài,
giữa lợi ích trung ơng với lợi ích địa phơng, giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể
với lợi ích quốc gia.
1.2. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu.
13
Hiện nay ở nớc ta kinh doanh thơng mại quốc tế có vai trò ngày càng quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII
nhấn mạnh:" Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Mở rộng thị tr-
ờng xuất nhập khẩu, tăng khả năng xuất khẩu các mặt hàng đã qua chế biến sâu,
tăng sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ "( Văn kiện Đại hội Đảng VIII-
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - 1996)
Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh thơng mại quốc tế là một nhân tố
quyết định để tham gia phân công lao động quốc tế, thâm nhập thị trờng nớc
ngoài. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh thơng mạI quốc tế còn là yêu
cầu tất yếu của việc thực hiện quy luật tiết kiệm.
Kinh doanh thơng mại quốc tế chiếm một vị trí quan trọng trong tái sản
xuất xã hội.
Khi sản xuất các hàng hoá để xuất khẩu, các quốc gia bỏ ra những chi phí
nhất định. Các tỷ lệ trao đổi ( mua bán ) đợc hình thành trên cơ sở giá cả quốc
tế. Mức giá và tơng quan của nó khác với giá trong nội bộ của nớc xuất khẩu.
Mặt khác, sản phẩm nhập khẩu tham gia vào lu thông hàng hoá trong nớc và
tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội, thực tế không tái sản xuất tại nớc đó.
Kinh doanh thơng mại quốc tế thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
đem lại cho nền kinh tế quốc dân nói chung bằng cách làm đa dạng hoá hoặc
làm tăng khối lợng giá trị sử dụng cho nền kinh tế quốc dân và mặt khác làm
tăng thu nhập quốc dân nhờ tranh thủ đợc lợi thế so sánh trong trao đổi đối với
nớc ngoài, tạo thêm tích luỹ cho quá trình tái sản xuất trong nớc, góp phần cải
thiện đời sống nhân dân trong nớc.
Với đặc thù của kinh doanh xuất nhập khẩu, hoạt động kinh doanh này
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, môi trờng văn hoá
của các tác nhân nớc ngoài. Vì vậy, khi thực hiện hoạt động kinh doanh này cần
phải xem xét tổng quan các tác nhân ảnh hởng đến nó để có các phơng pháp
làm việc và giải quyết công việc tối u, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh này ngày càng phát triển phù hợp với xu thế chung của thời đại và
định hớng của Đảng và Nhà nớc ta.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét