Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Giáo sư Tạ Quang Bửu


Giáo viên thực hiện:Tôn Nữ Bích Vân
TRƯỜNG THCS NGUYỄN KHUYẾN ĐÀ NẴNG
C




Gs Tạ Quang Bửu được sinh ra trong một
gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã
Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An.
Năm 1922, Tạ Quang Bửu thi vào
trường Quốc học Huế và đỗ thứ 11. Sau
đó ông ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm
1929, sau khi đỗ đầu tú tài Việt và đỗ đầu
tú tài Tây ban Toán, ông nhận được học
bổng của Hội Như Tây Du học của Nguyễn
Hữu Bài và sang Pháp học.




Tại Pháp, năm 1929 ông đăng ký học lớp toán đặc
biệt của trường Louis le Grand về toán học và
vật lý lý thuyết, đăng ký học cử nhân toán ở Viện
Henri Poincaré. Ở đây có hai giảng đường lớn:
Hermite dành cho cử nhân và Darboux dành cho
những người học trên đại học. Ông đã đến nghe
giảng ở Hermite và tham dự các buổi xê-mi-na ở
Darboux. Tại đây, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà
toán học trẻ của nước Pháp, bí mật tham gia
nhóm Nicolas Bourbaki. Mục đích của nhóm
Bourbaki là tổng kết toàn bộ thành tựu toán học
của loài người, mọi thành viên khi in các công
trình toán học dù dưới dạng báo hay sách đều kí
một bút danh là N. Bourbaki. Nhóm đã công bố
hơn 40 công trình đồ sộ, được đánh giá cao. Năm
1961, ông cho ra đời tác phẩm về "Cấu trúc của
Bourbaki".




Ông thi đỗ vào trường Centrale Paris năm 1930,
theo học chương trình cử nhân khoa học ở
Đại học Sorbonne, học toán ở các Đại học Paris,
Đại học Bordeaux (Pháp) từ 1930 đến 1934 và được
trường Bordeaux trao đổi sang Đại học Oxford
(Anh) trong một thời gian ngắn. Tại đây ông học
thêm Vật lý lượng tử.
Trở về nước năm 1934, ông không ra làm quan mà
đi dạy toán và tiếng Anh tại trường tư, ban đầu là
trường Phú Xuân, sau là trường dòng Providence
(Thiên Hựu) ở Huế. Ngoài tiếng Anh và Toán, Lí,
Hóa ông còn dạy các môn khoa học tự nhiên khác
theo yêu cầu của nhà trường. Các môn này (động
vật, thực vật, khoáng vật) ông tự nghiên cứu trong
sách chuyên ngành cao hơn nhiều so với chương
trình trung học rồi lên lớp với những mẫu hiện vật
tự sưu tầm




Với thể thao, ông cũng tỏ ra xuất sắc ở một số
môn và truyền đạt kinh nghiệm luyện tập cho
các học sinh như: đánh bóng bàn theo kiểu
Barma (đương kim vô địch thế giới về bóng
bàn, người Hunggary), tập điền kinh theo
phương pháp khoa học nhất, bơi sải (crawl)
Từ 1942 đến 1945, ông đi làm công cho hãng
Điện-Nước SIPEA, được cử phụ trách nghiên
cứu. Ông đã thiết kế nhiều bộ phận cho các nhà
máy điện, tái sinh dầu nhờn cho Qui Nhơn. Ông
đã khước từ Huân chương Bắc đẩu do Pháp
trao vì thiết kế đường dây điện cao thế cho nhà
máy vôi Long Thọ. Ngoài ra ông vẫn tranh thủ
học thêm và nghiên cứu cơ học lượng tử và
phương trình vi phân.

Ông là một trong những người tiên phong
của Việt Nam dự trại Tráng sĩ của tổ chức
Hướng đạo Việt Nam. Thi đỗ ông được cấp
bằng trại trưởng và là đại diện huấn luyện
cho toàn Đông Dương. Ông được bầu làm
Huynh trưởng Hướng đạo sinh Trung Kỳ.
Tháng 8/1945, ông ra Hà Nội tham gia cách
mạng. Từ tháng 9/1945 đến 1/1946, ông đã
đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ
Ngoại giao trong Chính phủ lâm thời của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, rồi Thứ
trưởng Bộ Quốc phòng.

Năm 1946 ông tham gia đoàn đại biểu chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Đà Lạt,
rồi Hội nghị Fontainebleau (Pháp) đàm phán với
Pháp và nhân đó sang Zurich dự lễ kỷ niệm 200
năm thành lập Hội các nhà khoa học tự nhiên
Thụy Sĩ vào tháng 7 năm đó.
Tháng 7 năm 1947, ông gia nhập Đảng Cộng
sản Đông Dương. Tháng 8 năm 1947, ông làm
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sau đó một năm trở
lại cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu đã chỉ
đạo và biên soạn cuốn sách "Bắn máy bay bằng
súng trường tập trung" phổ biến rộng rãi khắp
nơi và sau đó, khiến máy bay Pháp phải dè
chừng trên vùng trời Việt Nam.

Kinh nghiệm này cũng được áp dụng cho dân
quân du kích Việt Nam dùng súng trường bộ
binh bắn rơi máy bay phản lực Mỹ trong chiến
tranh chống Mỹ.
Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng
Quốc phòng Tối cao vừa được thành lập, sau
đó còn làm Chánh văn phòng Quân ủy Trung
ương.
Tuy kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng
khác nhau, ông vẫn dành thời gian truyền thụ
kiến thức của mình cho các thế hệ học trò.
Ngay trong những ngày Cách mạng mới thành
công, ông vừa tham gia các công việc của
chính phủ vừa giảng dạy môn Vật lý tại Đại
học Hà Nội.

Năm 1954, ông tham gia đoàn đại biểu
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự
Hội nghị Geneva về Việt Nam trên cương vị
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và là người đại
diện cho Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân
Việt Nam kí văn bản Hiệp nghị đình chỉ
chiến sự tại Việt Nam và Lào, thường được
biết đến dưới cái tên Hiệp định Genève về
Việt Nam
Tạ Quang Bửu ký
Hiệp định Genève


Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, ông
được cử làm Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa
Hà Nội (1956-1961) đồng thời là Phó Chủ
nhiệm kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Khoa học
Nhà nước. Là lãnh đạo Uỷ ban Khoa học Nhà
nước, ông trực tiếp làm trưởng ban Sinh vật -
Địa học. Các bài giảng của ông về sinh học
hiện đại có các giáo sư đầu ngành đến dự.

Ông là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Đại học và
Trung học chuyên nghiệptừ 1965 đến 1976.
Giáo sư Tạ Quang Bửu đã đề xuất cải tiến nội
dung giảng dạy những điều "cơ bản nhất,
hiện đại nhất và sát hợp với điều kiện Việt
Nam nhất".



Theo sự chỉ đạo của Giáo sư, hệ thống các ban
thư kí các bộ môn và các ngành đào tạo được
thành lập để cải tiến chương trình đào tạo đồng
thời các cán bộ có trình độ cao và kinh nghiệm
giảng dạy cũng được tập hợp để biên soạn các
giáo trình Những năm đầu của thập niên 1970,
ông đã tổ chức một loạt các cuộc hội thảo về
phương pháp giảng dạy đại học. Chủ trương
mở rộng quy mô đào tạo bằng việc lập nhiều
trường chuyên ngành đã được phối hợp chặt
chẽ với chính sách tuyển chọn mỗi năm hàng
trăm sinh viên, cán bộ ưu tú để gửi đi đào tạo
tại các nuớc xã hội chủ nghĩa

Thời kỳ này, giáo sư Tạ Quang Bửu vẫn tham
gia giải quyết những vấn đề gay cấn nhất trong
khoa học kỹ thuật quân sự. Mùa hè năm 1972
Tổng thống Mỹ Richard Nixonra lệnh thả thủy
lôi trên sông biển và phong toả cảng Hải Phòng.
Ông đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết
kế, chế tạo khí tài phá thuỷ lôi (mật danh GK1)
để chống lại thủy lôi chiến lược MK 52 của Mỹ,
khí tài phá bom từ trường (mật danh GK2) do
Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.
Đêm 14 tháng 8 năm 1986, ông đột ngột ngưng
làm việc do rối loạn tuần hoàn não và một tuần
sau, ông qua đời.

Xem chi tiết: Giáo sư Tạ Quang Bửu


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét