Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Giải pháp hoàn thiện quản lý công nợ tại Xí nghiệp ô tô 2-9)"

Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
Tóm lại, chính các chính sách tín dụng và các giải pháp huy động vốn
đã làm nảy sinh các vấn đề công nợ trong doanh nghiệp, buộc các doanh
nghiệp phải có trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn một
cách hợp lý, theo dõi sát sao tình hình thanh toán công nợ chi tiết theo từng
đối tượng.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của công nợ
• Khái niệm:
Công nợ trong doanh nghiệp bao gồm công nợ phải thu và công nợ phải
trả, đây là hai mặt trái ngược của một vấn đề nhưng chúng luôn tồn tại song
song và khách quan với nhau, chúng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
• Đặc điểm:
+ Chủ thể tham gia:
- Con nợ: Là các cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế có khoản tiền phải
trả đối với các cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế khác
- Chủ nợ: Là các cá nhân, đơn vị tổ chức kinh tế có khoản tiền phải
thu đối với các cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế khác
+ Công nợ luôn gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp:
Ngay từ khi bước vào hoạt đống sản xuất kinh doanh các doanh
nghiệp luôn phải có một số vốn nhất định, phù hợp với ngành nghề mà
doanh nghệp đã đăng ký với bộ chủ quản. Số vốn mà doanh nghiệp nắm
giữ không phải hoàn toàn là vốn tự có, mà được huy động từ nhiều nguồn
khác nhau, chủ yếu vẫn là nguồn vốn tín dụng. Như vậy, ngay từ khi khởi
đầu, doanh nghiệp đã có các khoản công nơn phải trả có liên quan đến
nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sau
này, các phương thức thanh toán mà doanh nghiệp áp dụng cũng đã hình
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
5
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
thành nên các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp đối với các bạn hàng,
các tổ chức, cá nhân hay các khoản phải trả đối với các chủ nợ.
Như vậy, công nợ không bao giờ tách khỏi quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp dù doanh nghiệp có ở bất kỳ một vị trí nào trong
chu kỳ sống của mình, từ khi doanh nghiệp được thành lập đi vào hoạt
động đến khi doanh nghiệp đang ở trên bờ vực phá sản.
+ Công nợ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp: Khi đành
giá một doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng hay các đối tác
kinh doanh thường quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi
phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp các nhà đầu tư, các ngân
hàng, các đối tác kinh doanh thường quan tâm đến vấn đề công nợ của
doanh nghiệp để thấy được tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành
mạnh hay không, doanh nghiệp có phải đối đầu với những khoản nợ chiếm
tỷ trọng lớn hay không, tình hình tự chủ tài chính trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp ra sao thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu,
con số liên quan đến tình hình công nợ của doanh nghiệp.
1.3. Các loại công nợ
1.3.1. Công nợ phải thu
1.3.1.1 Khái niệm
Công nợ phải thu là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn
vị khác hoặc cá nhân chiếm dụng một cách hợp pháp hay bất hợp pháp mà
doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi để đáp ứng cho nhu cầu tái sản
xuất của doanh nghiệp.
- Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc cá nhân
khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi, ở đây có thể là
tiền, tài sản, các loại vật chất có thể quy đổi ra tiền, các khoản thiệt hại do
các tổ chức cá nhân khác gây ra mà các đơn vị này phải bồi thường.
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
6
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
- Các đơn vị ở đây có thể là các doanh nghiệp, khách hàng, mà trong
quá trình mua hàng của doanh nghiệp đã nợ tiền của doanh nghiệp; Doanh
nghiệp báng hàng cho doanh nghiệp: là các doanh nghiệp đã nhận tiền mua
hàng ứng trước cho doanh nghiệp; các tổ chức tài chính: trong quá trình
hoạt động kinh doanh trên thương trường việc các tổ chức tài chính có thể
huy động vốn của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi
hoặc chi phí cơ hội giữa việc kinh doanh và việc cho các tổ chức tài chính
vay thì tỷ suất lợi nhuận cho các tổ chức tài chính vay là cao hơn
- Các cá nhân có thể là các cá nhân bên trong hay bên ngoài doanh
nghiệp, họ đã chiếm giữ tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp, khoản tiền
hoặc tài sản chiếm giữ này là hợp pháp nếu nó đúng pháp luật, phục vụ
mục đích của doanh nghiệp, có sự chấp nhận của doanh nghiệp và ngược
lại.
1.3.1.2. Nội dung
Các khoản công nợ phải thu của doanh nghiệp bao gồm:
+ Các khoản phải thu từ khách hàng: Là những khoản cần phải thu do
doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, thành phẩm hoặc cung cấp lao vụ, dịch
vụ cho khách hàng.
+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ: Chỉ phát sinh ở những
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ. Thuế GTGT được khấu trừ là số thuế đầu vào của
hàng hoá, dịch vụ, TSCĐ mà cơ sở kinh doanh mua vào dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh chịu thuế GTGT.
+ Các khoản phải thu nội bộ: Là các khoản phải thu phát sinh giữa
doanh nghiệp với đơn vị cấp trên, giữa các đơn vị trực thuộc hoặc các đơn
vị phụ thuộc trong một đơn vị độc lập, các doanh nghiệp độc lập trong
tổng công ty về các khoản vay mượn, chi hộ, trả hộ, thu hộ, hoặc các
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
7
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
khoản mà doanh nghiệp cấp dưới có nghĩa vụ nộp lên đơn vị cấp trên hoặc
cấp trên phải cấp cho cấp dưới.
+ Các khoản phải thu khó đòi: Là những khoản phải thu từ các đối
tượng mà doanh nghiệp xét thấy khả năng khó đòi hoặc có khả năng không
thể đòi được vào cuối kỳ kế toán do khách nợ làm ăn thua lỗ không có khả
năng chi trả hoặc bị phá sản, giải thể
+ Các khoản tạm ứng cho công nhân viên: Là những khoản tiền hoặc
vật tư do doanh nghiệp giao cho cán bộ công nhân viên để thực hiện một
nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết một công việc như mua hàng, trả chi
phí, đi công tác Sau khi hoàn thành, kết thúc công việc được giao người
nhận tạm ứng phải có trách nhiệm báo cáo thanh toán tạm ứng với doanh
nghiệp.
+ Cầm cố, ký quỹ, ký cược
Cầm cố: Là việc doanh nghiệp mang tài sản của mình giao cho người
nhận cầm cố giữ để vay vốn hoặc để nhận cac loại bảo lãnh. Tài sản cầm
cố có thể là vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, ô tô, xe máy và cũng có thể
là những giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu về nhà, đất hoặc tài sản. Những
tài sản đã mang cầm cố, doanh nghiệp có thể không còn quyền sử dụng
trong thời gian đang cầm cố. Sau khi thanh toán tiền vay, doanh nghiệp
nhận lại những tài sản đã cầm cố.
Ký quỹ: Là việc doanh nghiệp gửi một khoản tiền hoặc kim loại quý,
đa quý hay các giấy tờ có giá trị vào tài khoản phong toả tại Ngân hàng để
đảm bảo việc thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp và ràng buộc trách
nhiệm pháp lý về việc thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp và ràng buộc
trách nhiệm pháp lý về việc thực hiện các nghĩa vụ thoả thuận trong hợp
đồng đã ký kết.
Ký cược: Là việc doanh nghiệp đi thuê tài sản giao cho bên thuê một
khoản tiền oặc kim khí quým đá quý hoặc các vật có giá trị cao khác
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
8
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
nhằm mục đích ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của người đi thuê tài
sản phải quản lý, sử dụng tốt tài sản đi thuê và hoàn trả tài sản đúng thời
gian quy định. Tiền đặt cược do bên có tài sản cho thuê quy định có thể
bằng hoặc cao hơn giá trị của tài sản cho thuê.
+ Khoản trả trước cho người bán
Đây là khoản tiền mà doanh nghiệp trả trước cho người bán để mua hàng
hoá, thành phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp chưa được giao hàng.
+ Khoản phải thu khác:
Gồm có:
- Giá trị tài sản thiếu đã được phát hiện nhưng chưa rõ nguyên nhân phải
chờ xử lý.
- Các khoản phải thu về bồi thường vật chất do cá nhân tập thể (trong và
ngoài đơn vị) gây ra như mất mất hư hỏng vật tư, hàng hoá, tiền vốn, đã
được xử lý bắt bồi thường.
- Các khoản cho vay, cho mượn vật tư, tiền vốn có tính chất tạm thời
không lấy lãi.
- Các khoản đã chi cho hoạt động sự nghiệp, chi dự án, chi đầu tư
XDCB, chi phí sản xuất kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền
phê duyệt phải thu hồi.
- Các khoản đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu chi hộ cho đơn vị uỷ thác
xuất khẩu về phí ngân hàng, phí giám định hải quan, phí vận chuyển, bốc
vác
- Các khoản phải thu phát sinh khi cổ phần hoá công ty nhà nước như:
Chi phí cổ phần hoá, trợ cấp cho lao động thôi việc, mất việc
- Tiền lãi, cổ tức, lợi nhuận phải thu từ các hoạt động đầu tư tài chính.
- Các khoản phải thu khác ngoài các khoản trên.
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
9
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
1.3.2 Công nợ phải trả
1.3.2.1 Khái niệm
Công nợ phải trả là nguồn vốn kinh doanh được tài trợ từ bên trong hay
bên ngoài doanh nghiệp, là số tiền vốn doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng
của đơn vị, tổ chức, cá nhân và do vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm
hoàn trả.
Các đơn vị, tổ chức, cá nhân ở đây có thể là ngân hàng, tổ chức tín dụng,
nhà cung ứng các yếu tố đầu vào, công nhân viên trong bản thân các doanh
nghiệp
1.3.2.2. Nội dung
Các khoản công nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm:
+ Vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn trả trong một chu kỳ sản
xuất, kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm tài chính nhằm mục
đích chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động.
Mục đích:
- Bổ sung vốn lưu động
- Mua sắm vật tư, hàng hoá dự trữ
- Vay thanh toán nợ cho nhà cung cấp
- Vay để trả nợ vay đén hạn, quá hạn.
+ Nợ dài hạn đến hạn trả: Là các khoản nợ dài hạn đã đến hạn phải trả
cho chủ nợ trong niện độ kế toán hiện hành.
+ Khoản phải trả cho người bán: Là toàn bộ giá trị hàng hoá, nguyên vật
liệu, lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp mua chịu, đã nhận hàng nhưng chưa
thanh toán tiền.
+ Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước:
- Thuế GTGT: Là loại thuế gián thu được tính trên khoản giá trị tăng
thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông
đến tiêu dùng.
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
10
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hoá,
dịch vụ nhất định thuộc một trong hai nhóm sau:
Những hàng hoá, dịch vụ Nhà nước không khuyến khích sản xuất, nhập
khẩu, tiêu dùng.
Những hàng hoá, dịch vụ mà chỉ có những người có thu nhập cao mới có
thể sử dụng.
+ Thuế xuất, nhập khẩu: Là các loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu và biên giới Việt Nam. Thuế xuất
khẩu, nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để
quản lý các hoạt động kinh tế đối ngoại.
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập
chịu thuế của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
+ Các loại thuế, phí và lệ phí khác;
- Thuế môn bài: Là loại thuế đánh vào tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc
các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh trừ các đối tượng
phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp. Thông qua thuế môn bài giúp Nhà
nước quản lý tình hình sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh doanh.
- Thuế nhà, thuế đất: Là thuế thu đối với nhà và đối với việc xây dựng và
sử dụng nhà ở, khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm phù hợp
với luật đất đai, động viên sự đóng góp của chủ sở hữu và người sử dụng nhà,
đất vào ngân sách Nhà nước.
- Phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác:
Phí : Là khoản thu đối với những người hưởng thụ các dịch bụ công cộng
do Nhà nước cung cấp.
Lệ phí: Là các khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính
quyền Nhà nước có cung cấp các dịch vụ công cộng về hành chính pháp lý
cho dân chúng và các tổ chức kinh tế - xã hội.
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
11
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
Các khoản phải nộp khác là các khoản thuế phải nộp vào ngân sách Nhà
nước ngaòi các loại kể trên.
+ Các khoản phải trả công nhân viên: Là các khoản tiền doanh nghiệp
phải trả cho công nhân viên như tiền lương, tiền công, tiền thường, bảo hiểm
xã hội và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập của người lao động.
Chi phí phải trả: Là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh, nhưng
được tính trước vào chi phí hoạt động kinh doanh trong kỳ hạch toán cho các
đối tượng chịu chi phí, để đảm bảo khi các khoản chi trả phát sinh thực tế sẽ
không gây đột biến cho chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Các khoản phải trả nội bộ: Là các khoản phải trả giữa doanh nghiệp
độc lập với các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc trong một doanh nghiệp độc lập,
tổng công ty, công ty về các khoản phải trả, phải nộp, phải cấp hoặc các
khoản mà các đơn vị trong doanh nghiệp độc lập đã chi, đã thu hộ cấp trên,
cấp dưới hoặc đơn vị thành viên khác.
+ Vay dài hạn: Là khoản tiền vay có thời hạn thanh toán trên một năm để
đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ, đầu tư, cải tiến kỹ thuật, mở rộng
sản xuất kinh doanh, đầu tư dài hạn khác.
+ Các khoản nhận ký quỹ, ký cược: Là các khoản tiền, tài sản mà doanh
nghiệp nắm giữ của đối tác kinh doanh trong hợp đồng kinh tế để đảm bảo
cho các dịch vụ liên quan đến sản xuất, kinh doanh được thực hiện đúng hợp
đồng kinh tế đã ký kết.
+ KHoản người mua ứng trước: Là khoản tiền mà khách hàng ứng trước
cho doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho hoạt động của hợp đồng được ký kết
giữa hai bên sẽ được thự hiện.
+ Các khoản phải trả phải nộp khác:
- Tài sản thừa chờ xử lý: Là tài sản doanh nghiệp phát hiện thừa so với số
liệu ghi trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp mà chưa có biện pháp xử lý.
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
12
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
- Kinh phí công đoàn: Là khoản kinh phí nhằm phục vụ cho hoạt động
của tổ chức công đoàn, được thành lập theo luật công đoàn, do đó doanh
nghiệp phải trích lập kinh phí công đoàn. Quỹ này được hình thành bằng cách
trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Theo quy định hiện nay, tỷ lệ
này là 2%.
- Bảo hiểm xã hội: Là khoản trợ cấp trả cho người lao động trong trường
hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như: ốm đau, tai
nạn lao động,hư trí sẽ được hưởng trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong
cuộc sống. quỹ này được tạo bằng cách trích theo tỷ lệ phần trăm tiền lương
phải thanh toán cho công nhân viên. Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này là 20%
trong doanh nghiệp chịu 15% được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp còn 5% là người lao động phải chịu.
- Bảo hiểm y tế: Nhằm xã hôịo hoá việc khám chữa bệnh, người lao động
cần được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm: các khoản
viện phí, thuốc mem khi ốm đau. Theo quy định hiện nay bảo hiểm y tế
được trích lập theo tỷ lệ 3% trên lương phải trả công nhân viên, trong đó tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ là 2% và người
lao động chịu 1%.
- Phải trả, phải nộp khác: Là các tài sản không thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp mà doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả ngoài các khoản trên.
II. QUẢN LÝ CÔNG NỢ CỦA DOANH NGHIỆP
2.1. Mục đích, ý nghĩa công tác quản lý công nợ
2.1.1. Mục đích
Vốn luôn là đề tài muôn thuở đối với sự phát triển, là cơ sở vật chất đảm
bảo cho sự sống còn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có "sức khoẻ tốt"
là một doanh nghiệp có khả năng tài chính vững vàng, đủ mạnh và luôn được
củng cố. Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu không ngừng được tăng cường từ hiệu
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
13
Báo cáo tốt nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên
quả các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, việc huy động và tập trung vốn
cũng phải được quan tâm một cách đúng đắn, nghiêm túc. Một trong những
nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác đó là nguồn vốn huy động từ các
tổ chức tín dụng, các cá nhân từ bên ngoài Trong công tác nguồn vốn cần
đảm bảo chữ "Tín" phải thắt chặt quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các
ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Để có thể huy động vốn từ cơ sở pháp lý và
thực tiễn vững chắc, hiệu quả và đặc biệt là có đủ khả năng tài chính để có thể
đảm bảo được nợ theo đúng hạn.
Khả năng tài chính được xem như một bức tranh sống động về sự tồn tại
của một doanh nghiệp trên những nội dung cơ bản và quan trọng như: quy
mô, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán nợ, Trong quan hệ tín dụng,
xem xét quyết định đầu tư vốn hay không. Ngạn ngữ có câu " Trông giò bỏ
thóc" với ý nghĩa đó, tổ chức tín dụng chỉ cho vay vốn đối với các khách hàng
có khả năng tài chính lành mạnh, ngày càng được cải thiện, có đủ khả năng
cần thiết để trả nợ cho tổ chức tín dụng đúng kỳ hạn đã cam kết. Để đáp ứng
được yêu cầu đó đòi hỏi công tác quản lý công nợ của doanh nghiệp cũng
phải có hiệu quả. Điều này đòi hỏi năng lực quản lý cũng như sự chỉ đạo của
đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý tài chính nói chung và công nợ nói
riêng đạt được những kết quả và thành tích khả quan để sao cho khi nhìn vào
những "Con số biết nói" trên các báo cáo của doanh nghiệp thì các nhà đầu tư
đểu mong muốn mình sẽ được làm đối tác của doanh nghiệp. Như vậy mục
đióh của công tác quản lý công nợ trong doanh nghiệp là gì?
Doanh nghiệp sẽ căn cứ vào các số liệu trên các bản báo cáo, bảng Cân
đói kế toán, số liệu ký kết và thực hiện các hợp đồng vay vốn, mua hàng, các
sổ sách hạch toán tổng hợp và chi tiết công nợ, tránh tình trạng sai lệnh,
không khớp về số liệu giữa doanh nghiệp với khách nợ và giữa doanh nghiệp
với chủ nợ. Đồng thời kết hợp với các chỉ tiêu về tình hình công nợ phải trả
doanh nghiệp có thể nhận thức và đánh giá được tình hình biến động tăng
Nguyễn Trung Quyết - K2 KTB
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét