Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

tim hiểu bệnh tật trẻ em

Ðặt ngón trỏ hoặc ngón trỏ và ngón giữa lên cổ tay của Bé, ở phần gốc ngón tay cái, khi Bé để
ngửa bàn tay, bạn sẽ thấy nhịp đập của mạch máu cổ tay. Trẻ càng nhỏ, nhịp đập càng mau. Ở TRẺ
SƠ SINH, SỐ NHỊP ÐẬP BÌNH thường trong 1 phút từ 120 - 140 đập. Trẻ 2 tuổi: 110 đập/phút.
Trẻ 6 tuổi: 60 - 80 ÐẬP/PHÚT. SỐ NHỊP đập này sẽ cao hơn bình thường khi trẻ khóc, hay hoạt
động mạnh.
Khi Bé ốm, số nhịp đập sẽ không giống bình thường vì mạch ÐẬP SẼ YẾU HƠN.
KHáM HọNG THế NàO?
Ðối với trẻ nhỏ, cần phải có một người thứ 2 giúp sức thì bạn mới khám họng cho Bé được. Người
này bế cháu bé trên lòng, cho mặt cháu hướng về phía ánh sáng, giữ tay chân cháu, để cháu tựa
người vào mình rồi dùng 1 tay ấn nhẹ vào trán cháu để đầu cháu ngả về phía sau.
Người khám ngồi phía trước cháu bé, một tay làm Bé mở miệng ra, còn tay kia dùng cuống 1 chiếc
thìa (muỗng) ấn lưỡi cháu bé xuống và bảo cháu kêu : "a a ". Như vậy, bạn sẽ nhìn rõ a-my-đan
ở họng Bé.
5. LÀM GÌ KHI BÉ SỐT?
KHÔNg ÐắP Hoặc cho Trẻ Mặc THêM Quần áo
Chỉ mặc một bộ quần áo ngủ cho thoáng. Không đắp chăn dạ hoặc len. Nếu cần, chỉ đắp chăn đơn
(như khăn trải giường). Nhiệt độ TRONG PHÒNG KHOẢNG 20
O
C LÀ VỪA.
THUốC THƯờNG DùNG
Hai thứ thuốc thường dùng để trị sốt và hạ nhiệt là thuốc aspirine (acide acétylsalicylique) và thuốc
paracétamol. Cần để bác sĩ chỉ định liều lượng, nhưng cách dùng chung như sau :
- Lượng thuốc tính bằng số viên thuốc dùng trong 24 giờ phụ thuộc theo số cân nặng hoặc số tuổi
của trẻ. Bạn cần nhớ lượng thuốc tối đa được dùng. Không được cho Bé uống quá lượng tối đa đó.
- Lượng thuốc này được chia thành nhiều phần để uống thành nhiều đợt trong ngày. Thí dụ: mỗi
ngày uống 2 viên chia làm 4 lần, mỗi lần nửa viên.
Một số người lớn phạm sai lầm là cho trẻ uống hết cả liều 1 lần. Khi thuốc hết tác dụng, thân nhiệt
của trẻ tăng cao đột ngột gây ra chứng co giật rất đáng ngại ở trẻ.
- Mỗi thứ thuốc có thể được trình bày dưới các dạng khác nhau như viên, đóng gói, sirô, viên đặt ở
hậu môn v.v Khi dùng, cần biết rõ mỗi viên, mỗi gói, mỗi thìa tương ứng với lượng thuốc là
bao nhiêu? Nhiều thuốc mang tên khác nhau nhưng trong thành phần cũng có aspirine hay
paracétamol. Bởi vậy, cần đọc công thức của thuốc để khỏi cho uống nhiều thuốc cùng tác dụng.
- ASPIRINE CÓ trong các loại thuốc mang tên khác nhau như Catalgine, Juvépirine, Aspégic v.v
Liều lượng thường dùng là 0,05 g/ngày cho 1 kg cân nặng. Không bao giờ được vượt quá 0,lg/ngày
cho 1 kg eần nặng. Thí dụ: một đứa trẻ nặng 12 kg, có thể uống trong ngày (24 giờ) một lượng
aspirine bằng 0,05 g x 12 = 0,6 g. Lượng thuốc trên được chia thành 6 lần uống. Mỗi lần uống 0,1
g cách lần sau 4 GIỜ, NGHĨA LÀ CỨ 4 GIỜ LẠI UỐNG 0,1 G ASPIRINE.
PARACETAMOL có trong các thuốc mang tên Efferalgan, Dolipran. Liều lượng thường là 0,02 -
0,03g (20 - 30 mg) cho mỗi kilôgam cân nặng, trong 24 giờ. Lượng thuốc này cũng được chia làm
6 lần uống, mỗi lần cách nhau 4 giờ.
Hiện nay, các bác sĩ có xu hướng cho dùng paracétamol nhiều hơn là aspirine vì paracétamol dễ
được bộ máy tiêu hóa hấp thụ.
- Có thể dùng xen kẽ 2 thứ aspirine và paracétamol, 1 lần aspirine, 1 lần paracétamol. Như vậy, sẽ
giảm được lượng thuốc của mỗi thứ.
PHƯƠNG PHáP Hạ NHIệt Từ B? NgOàI
- NG?M NƯỚC - Nếu dùng thuốc rồi mà thân nhiệt vẫn chưa hạ xuống, có thể tắm cho cháu bé
bằng nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của Bé từ 1 - 2
o
C, trong thời gian 10 phút. Có thể cho
cháu ngâm nước 2 - 3 lần trong ngày.
Nhưng, nếu thấy mặt Bé tái hoặc người run phải bế cháu ra khỏi nước; choàng khăn và lau khô
ngay cho cháu.
- CHƯỜM NƯỚC ĐÁ - Ðựng nước đá vào một túi vải hay cao su rồi đặt vào gáy, hoặc nách,
háng, có đệm một lớp vải hay len. Có thể làm nhiều lần trong ngày và thay nước đá khi đã tan hết.
Nếu không có nước đá, đắp khăn tẩm nước mát lên trán CŨNG ÐƯỢC.
- NHỏ MũI - Nếu bác sĩ đã chỉ định dùng thuốc nhỏ mũi có kháng sinh, hãy dùng dụng cụ bóp - hút
bằng cao su, rửa lỗ mũi cho Bé bằng dung địch sérum sinh học. Sau đó, dùng ống nhỏ giọt nhỏ
thuốc vào lỗ mũi của cháu.
Sau khi dùng, phải rửa ống nhỏ giọt bằng cồn 90
o
.
Trước khi dùng thuốc nhỏ mũi, để thuốc vào một chén nước ẤM ÐỂ HÂM CHO THUỐC ẤM
LÊN.
- XÔNG - Ðổ nước nóng vào bồn tắm hay một chậu lớn rồi pha một thìa súp dầu khuynh diệp hoặc
benjoin vào. Phòng tắm đóng kín để hơi bốc lên không bị thoát ra ngoài. Bế cháu bé trên tay hoặc
để cháu chơi ở dưới sàn có trải khăn. Khoác một khăn tắm quanh người Bé, không cần mặc quần
áo. Mồ hôi Bé sẽ ra nhiều. Hơi nước nóng có dầu sẽ thấm qua da được Bé thở hít vào phổi.
Sau khi Bé ra mồ hôi, quấn khăn quanh người rồi bế ra khỏi phòng tắm, lau khô người cho Bé. Chú
ý không để Bé bị lạnh khi ra khỏi phòng. Phương pháp này rất tốt cho trẻ em bị sốt vì đau họng.
- THụT - Lấy nước đun sôi, để nguội, nhưng còn ấm. Cho thuốc đã được bác sĩ chỉ định vào nước.
Nếu chỉ muốn cho Bé ị được, cho 1/2 muỗng cà-phê thuốc bicarbonate de soude hoặc một muỗng
cà-phê dầu ô-liu hay parafine nguyên chất vào nước khuấy nước cho thuốc tan.
Dùng ống bóp hút nước lên bôi trơn đầu ống, bằng vadơlin, đưa đầu ống từ từ vào hậu môn rồi bóp
nhẹ ống cho nước từ từ vào ruột. Khi nước đã vào hết, rút ống ra và bóp 2 bên mông Bé cho khít
lại để giữ nước trong 2 - 3 phút, rồi cho Bé ngồi bô để Bé "đi" ra.
6. MỘT SỐ ÐỘNG TÁC CHUYÊN MÔN.
ÐắP GạC ẩM - Theo sự chỉ định của bác sĩ, nếu bạn cần đắp gạc lên một vết thương hoặc cái nhọt,
lấy một miếng gạc ngâm vào nước ấm có pha cồn 90
o
(pha 1 thìa súp cồn vào 1 bát nước). Ðặt gạc
lên nhọt và cứ 10 - 15 phút, lại làm lại.
ÐứT TAY HOặC VếT THƯƠNG - Việc đầu tiên là rửa vết thương. Rửa kỹ bằng xà phòng, không
để đất, cát hoặc gai ở lại trong thịt. Sau đó bôi thuốc sát trùng, trước khi băng lại.
DùNG BĂNG DíNH (BĂNG KEO) - Các loại băng dính có sẵn gạc và thuốc sát trùng đều có bán
sẵn ở hiệu thuốc. Dùng loại băng này cũng phải thay hàng ngày. Nếu trong ngày, băng bị bẩn,
PHẢI THAY CÁI KHÁC.
BUộC BĂNG - Nếu vết thương chảy máu, cần rửa sạch, bôi thuốc sát trùng, đắp một miếng gạc
lên rồi lấy cuốn băng buộc lại. Không được buộc chặt để máu vẫn lưu thông được phải làm sao để
chỗ có vết thương không vì buộc băng mà phồng lên tím lại, và sờ thấy lạnh.
Nếu buộc băng ở đầu, để khi ngủ băng không bị tuột ra đội cho trẻ một cái mũ lưới hay mũ ngủ.
NH?NG ĐIỀU CẦN TRÁNH - Khi chườm nóng cho các cháu bằng các dụng cụ bằng cao su, túi
chườm v.v phải xem cần thận nút của túi có kín không. Bọc một khăn ngoài túi chườm trước khi
chườm cho trẻ. Có rất nhiều trẻ bi bỏng vì chườm. Ðối với những cháu nhỏ, không được dùng cồn,
rượu long não hay rượu bạc hà để xoa vùng ngực nếu không có ý kiến và sự chỉ định của bác sĩ.
TI? CHíCH CHO TRẻ - Ðối với các trẻ sơ sinh, người ta tránh không tiêm mông mà chỉ tiêm vào
bắp đùi. Công việc này nên để người khác làm, bố mẹ chỉ nên đứng bên cạnh để dỗ dành và an ủi
cháu chứ không nên làm người phụ tá cho người làm đau cháu.
7. Dùng thuốc cho trẻ .
Bé bị sốt và bạn cho rằng cháu bị viêm họng. Lần trước anh Bé cũng bị như vậy, và bác sĩ đã cho
uống thuốc. Loại thuốc này còn thừa, vẫn để trong tủ thuốc. Vậy, có nên cho Bé uống thuốc ?
KHÔNG N?!
Vì có nhiều thứ bệnh khác nhau cũng bắt đầu làm cho họng viêm đỏ. Nếu bạn cho cháu uống thuốc
như vậy, khi cần khám bệnh để điều trị cho cháu, bác sĩ sẽ gặp nhiều khó khăn, vì những triệu
chứng ban đầu CỦA BỆNH CHÍNH ÐÃ BỊ THUỐC LÀM BIẾN MẤT RỒI!
TRONg KHI CHƯA Có BáC Sĩ, BạN Có THể TRị BệNH CHO CHáU NHU TH?NàO?
NẾU TRẺ:
Bị Sổ MũI : Nhỏ thuốc nhỏ mũi (sérum sinh học), dùng viên thuốc đặt ở hậu môn có thành phần
dầu thông, DẦU KHUYNH DIỆP.
Bị ÐI Tướt NHẹ - Trẻ trên 6 tháng: ngưng cho uống sữa, cho uống các dung dịch chống hiện tượng
cơ thể mất nước (CÓ BÁN SẴN Ở HIỆU THUỐC), NƯỚC CÀ RỐT, KHOAI TÂY NGHIỀN,
CHUỐI NGHIỀN.
Bị TáO BóN - Dùng viên thuốc đặt ở HẬU MÔN HAY DẦU PARAFINE.
Bị HO - Dùng si rô ho có thành phần THUỐC THỰC VẬT VÀ KHÔNG CÓ CODEINE.
Bị GIậT MìNH, KHó NGủ - Nước hoa CAM, LOÃNG.
Bị ÐAU BụNG - Uống ít nước pha mật ong.
Ngoài những loại thuốc và biện pháp vô hại trên, không được cho trẻ dùng bất cứ thuốc gì nhất là
các loại thuốc kháng sinh và sulfamide, kể cả thuốc bôi ngoài da. Cần tránh cả các loại thuốc nhỏ
mũi làm co tế bào màng mũi như Privine, Tizine, Naphtasoline
Kể cả thuốc sốt aspirine cũng không được dùng tự do, không CÓ SỰ CHỈ ÐỊNH CỦA BÁC SĨ.
LIỀU LƯỢNG KHÁC NHAU, TÁC DỤNG KHÁC NHAU
Cần cho trẻ dùng thuốc đúng liều lượng, đúng cách dùng đã được bác sĩ chỉ dẫn.
Nếu trẻ không chịu uống thuốc hoặc uống không đủ liều lượng do bác sĩ chỉ định, cần phải báo cho
bác sĩ để tìm cách điều trị khác. Vì uống không đủ liều, bệnh không khỏi.
Cần chú ý tuân theo đúng cách dùng thuốc: uống làm bao NHIÊU LẦN TRONG NGÀY? MỖI
LẦN CÁCH NHAU BAO LÂU?
KHôNG Ðược Tự ý TĂNG LIềU LượnG THUốC!
Thuốc uống quá liều sẽ gây ngộ độc, tajo ra những phản ứng CƠ THỂ NHƯ MẨN ÐỎ, PHÁT
BAN, CHƯỚNG BỤNG
THáI Ðộ CủA NGƯờI LớN KHI CHO TRẻ UốNG THUốC
Không những cần làm sao cho trẻ hiểu rằng phải uống thuốc để khỏi bệnh, mà người lớn cũng phải
tin như thế để có thái độ cương quyết với trẻ. Một đứa trẻ phải uống thuốc sẽ nhìn vào thái độ
cương quyết hay lưỡng lự của người lớn để tùy cơ ứng xử.
Tuy vậy, nên giải thích cho Bé hơn là dùng biện pháp mạnh. Không bắt buộc nhưng cũng không
năn nỉ. Nên nói dịu dàng để Bé hiểu: việc uống thuốc là điều không thể khác được! Tránh không ép
uống thuốc bằng sức mạnh, vì thuốc dù lỏng hay rắn, có thể xuống theo đường hô hấp vào PHỔI
GÂY HẬU QUẢ RẤT NGUY HIỂM.
CáC BIệN PHáP CHO TRẻ UốNG THUốC: Nếu thuốc viên, tán ra thành bột rồi trộn với nước
đường. Nếu thuốc có vị đắng, rất đắng, nên pha với mứt quả có vị chua hoặc mật, sôcôla, chuối
nghiền. Nếu trẻ nhè ra, cần coi xem cháu đã uống được bao nhiêu để cho cháu uống thêm mà
không quá liều lượng.
Tránh không trộn thuốc với các thức ăn thường ngày của Bé như sữa, súp v.v , vì như vậy, sau
này Bé nhìn thấy sữa sẽ sợ, không chịu bú nữa.
- Thuốc để trong viên bao không nên lấy ra vì có thể loại thuốc này cần phải để lọt xuống dạ dày
rồi mới để cho tan.
- Si rô: Những thuốc loại si rô thường dễ uống. Trước khi uống, nên lắc đều chai đựng thuốc.
- Viên đặt ở hậu môn - Cần làm viên thuốc ướt hoặc ngâm vào vadơlin trước khi nhét thuốc vào
hậu môn trẻ. Sau đó, giữ mông trẻ KHÍT LẠI VÀI PHÚT ÐỂ THUỐC KHÔNG BỊ RƠI RA.
THờI GIAN CHữA TRị
Bé sốt 40
o
C, bác sĩ cho uống thuốc kháng sinh. Hôm nay, thân nhiệt của Bé đã xuống tới 36
o
8.
Vậy, có cần phải uống thuốc nữa hay không?
Vẫn cần phải uống thuốc cho đủ liều lượng. Ðể trị khỏi bệnh bằng thuốc kháng sinh, phải tiếp tục
dùng thuốc thêm một vài ngày, dù các triệu chứng bệnh đã mất. Thí dụ triệu chứng của bệnh viêm
họng, hoặc ho là sốt, khi hết sốt không có nghĩa là đã hết bệnh. Muốn khỏi dứt bệnh, phải dùng
thuốc từ 8 - 10 ngày. Nếu không dùng thuốc đủ liều lượng, có thể bị bệnh trở lại.
8. TỦ THUỐC GIA ÐÌNH.
ÐặT Tủ THUốC ở ÐÂU?
Tủ thuốc cần đặt ở vị trí cao để trẻ không với tới được và phải có khóa. Trẻ nào cũng thích mở tủ.
Khi thấy các hộp thuốc lọ thuốc nhỏ xinh, trẻ nào cũng muốn mở ra và nếm thử.
Những ống thuốc aspirine và các chai thuốc an thần mà nhiều người lớn vẫn coi thường, lại thường
là những thủ phạm gây ra nhiều vụ ngộ độc nhất cho trẻ em :
Không nên để tủ thuốc ở những nơi ẩm hoặc nóng.
Trong tủ. thuốc nên có :
- Bông, gạc
- Băng buộc, băng dính (keo)
- Kéo
- Kẹp
- ỐNG THỤT
- 1 lọ sérum sinh học
- 1 bình thuốc sát trùng
- 1 ống cặp sốt
- 1 lọ xà phòng nước
- 1 hộp viên nhuận tràng loại đặt hậu môn
- 1 ống va-dơ-lin
- 1 ống aspirine hay paracétamol dạng viên, gói, hoặc loại đặt ở hậu môn như: Efferalgan,
Dolipral
Ngoài ra, có thể có một hộp băng cầm máu loại "Stop HÉMO": BĂNG + GẠC CÓ THẤM CHẤT
CẦM MÁU.
GIữ THUốC THế NàO?
Thỉnh thoảng, chúng ta nên coi lại các thứ thuốc ở trong tủ thuốc để xem loại nào còn dùng được,
loại nào nên vứt đi, thứ nào đã dùng hết, phải mua bổ sung.
- Những ống thuốc tiêm (chích): nếu còn hộp thì hạn ngày còn dùng được, có ghi ở vỏ hộp.
- Loại thuốc kháng sinh và sulfamide: thuốc dùng thừa nên vứt đi vì những thuốc này khi dùng
phải do bác sĩ chỉ định.
- Thuốc viên, viên con nhộng, gói: phải để ở nơi khô ráo.
- Thuốc nhỏ mắt: một khi đã mở rồi, chỉ dùng trong vòng 15 ngày.
- Thuốc mỡ: nếu bóp ống thuốc mỡ thấy có nước mà phần còn lại bị cứng: vứt cả ống đi. Những
thuốc mỡ có chứa chất kháng sinh hoặc sulfamide chỉ dùng được trong vòng vài tuần.
- Chất bột: phải để ở nơi khô ráo.
- Dung dịch sérum sinh học: cần thay luôn.
- Sirô: khi đã mở, chỉ dùng được trong thời gian vài tuần lễ
- Viên đặt ở hậu môn: để nơi khô ráo.
BáC Sĩ CHUY? KHOA NHI
Có nhiều người tích rất nhiều loại thuốc trong tủ thuốc gia đình, nghĩ rằng như vậy sẽ ứng phó
được với tình hình sức khỏe của con cái và cả mọi người trong gia đình.
Trẻ sốt? Cho uống thuốc kháng sinh! Da bị mẩn đỏ? Bôi thuốc mỡ! Mệt? Cho uống thuốc bổ! Khó
ngủ? Cho uống thuốc an thần!
Hành động như vậy chưa đủ và đôi khi còn không có lợi vì đấy là sự cố gắng xóa dấu vết các triệu
chứng một căn bệnh nào đó chưa được biết.
Các bác sĩ chuyên môn, cần nhìn vào các triệu chứng đó để xác định được bệnh và quyết định cho
Bé dùng thuốc gì để ĐIỀU TRỊ BỆNH.
Trong mấy năm đầu, người bác sĩ rất cần cho trẻ, kể cả các cháu khỏe mạnh. Vì ngoài việc chữa
bệnh, bác sĩ còn có nhiệm vụ quan TRỌNG NỮA LÀ PHÒNG BỆNH. CHO tới 6 tuổi, các cháu
cần phải được bác sĩ theo dõi sức khỏe, kiểm tra sự phát triển về mọi mặt, tiêm chích phòng bệnh
và chữa bệnh.
ở mọi thành phố và tỉnh đều có các bác sĩ chuyên trị các bệnh trẻ em và các bệnh viện có khoa nhi
riêng biệt, bạn nên tìm biết các địa chỉ đó để đưa các cháu tới khám sức khỏe định kỳ và khám
bệnh khi cần thiết.
9. Cuốn sổ sức khỏe của Bé.
Mỗi trẻ em cần được bố mẹ lập cho một cuốn sổ sức khỏe. Sổ này có bán sẵn ở các trung tâm y tế
tại khoa nhi, hoặc có thể phải làm lấy. Bố hoặc mẹ các cháu sẽ ghi lại tất cả các điều có liên quan
tới Bé từ ngày mẹ Bé mang thai, ngày sinh, số cân nặng, chiều cao ở CÁC ÐỘ TUỔI CỦA BÉ,
NGÀY MỌC RĂNG nào, ngày bắt đầu chập chững biết đi, ngày phải uống thuốc trị bệnh gì, các
bệnh đã mắc phải do bác sĩ chẩn đoán, các lần phải vào bệnh viện hoặc phải chữa trị đặc biệt
Tất cả những điều được ghi trên, như một thứ lý lịch về sức khỏe của cháu bé, sẽ giúp cho bác sĩ
tìm được cách phòng bệnh, trị bệnh và săn sóc sức khỏe cho cháu bé một cách đắc lực
10. Khi Bé nằm bệnh viện.
Ngày nay, việc một trẻ em phải nằm lại bệnh viện không còn là một điều đáng lo lắng lắm. Bé nằm
lại bệnh viện vì bị ốm, nhưng chưa chắc vì căn bệnh trầm trọng, sở dĩ bác sĩ muốn giữ Bé nằm viện
là để dễ theo dõi và có điều kiện làm một số xét nghiệm mà thôi.
Khác với thời trước, khi vào viện Bé phải tách rời với gia đình, ngày nay, các bác sĩ và nhân viên
bệnh viện lại mong bệnh nhân có bố, mẹ hay người nhà ở lại để săn sóc. Như vậy trẻ em vừa được
ăn uống đầy đủ, vừa được yên tâm về mặt tinh thần. Sự cộng tác giữa những người có chuyên môn
về khoa chữa trị với gia đình bệnh nhân, có tác dụng rất tốt đối với người bệnh.
Cùng ở lại với con trong bệnh viện, các bà mẹ có thể hỏi y tá hoặc nhân viên phục vụ cháu, về:
- Nhiệt độ của cháu, dạng phân, tình hình sức khỏe nói chung như thế nào là tốt để dự đoán về
tình hình sức khỏe của cháu.
Có thể hỏi trực tiếp bác sĩ điều trị về:
- Căn bệnh của cháu bé.
- Sự diễn biến của bệnh sẽ như thế nào để biết trước.
- Sự điều trị sẽ lâu hay chóng ?
- Chế độ ăn uống của cháu cần như thế nào để dễ săn sóc.
PHẦN HAI: NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TỪNG PHẦN THÂN THỂ

I. ÐẦU
1. Thóp.
Thóp là vùng mềm giữa các xương sọ bên trên trán của trẻ SƠ SINH. THÓP SẼ CỨNG LẠI Ở
KHOẢNG từ 8 tới 18 tháng tuổi: các xương sọ lúc đó sẽ liền lại. Nếu cháu bé đã ngoài 2 tuổi mà
thóp vẫn còn mềm, bà mẹ cần nói cho bác sĩ biết. Ngược lại nếu mới trong 1, 2 tháng đầu mà cháu
bé đã không còn thóp nữa, thì đấy cũng là điều bất thường, có ảnh hưởng không hay tới sự phát
triển của đứa bé.
Các bà mẹ thường thấy thóp căng ra khi cháu bé khóc: đó là việc bình thường. Cả hiện tượng nhìn
thấy và sờ thấy thóp phập phồng cũng vậy.
Thóp lúc nào cũng phải dẹt và đàn hồi. Nếu thóp bị phồng căng lên thì là hiện tượng bất thường:
Bé có thể bị bệnh ở màng óc. Nếu thóp hõm xuống là biểu hiện cơ thể bé thiếu nước.
Nếu vì một tai nạn nào đó mà thóp bị va mạnh hoặc tổn thương, phải đưa bé vào bệnh viện ngay.
2. Vẩy trên đầu.
Nếu đầu cháu có những vẩy nhỏ, phải bôi va-dơ-lin lên mỗi chiều rồi hôm sau gội đầu cho cháu
bằng loại xà bông nhẹ (shampoing). Nếu không khỏi, cần hỏi các bác sĩ da liễu.
3. Bệnh viêm màng não.
Ngày nay, bệnh viêm màng não là một bệnh đáng ngại, tuy rằng việc chẩn đoán và phát hiện bệnh
có nhiều điều kiện để thực hiện được nhanh hơn trước.
Một triệu chứng rõ nhất ở trẻ sơ sinh là khi các cháu bị bệnh viêm màng não thì thóp bị căng và
phồng lên: cần phải đưa cháu đi bệnh viện hoặc tới bác sĩ ngay.
Những triệu chứng ở các cháu lớn là nôn ói nhiều, phọt ra thành tia, sốt, đau đầu và đặc biệt là hiện
tượng bị cứng gáy không thể gập cổ lại, để cằm đụng được ngực như ngày thường giống với mọi
NGƯỜI. Ở BỆNH VIỆN, NGƯỜI ta thường phải lấy nước tủy để xét nghiệm xem cháu bị bệnh do
vi trùng HOẶC VI RÚT.
BệNH VI? MàNG NãO DO VI TRùNG - Làm cho nước tủy của cháu bé bị bệnh có mủ. Cháu bé
càng nhỏ thì bệnh càng nguy hiểm. Một số vi trùng có thể là nguyên nhân của bệnh này như vi
trùng bệnh phổi (phế cầu trùng), liên cầu trùng, hoặc hémophilus (xem mục 210: hémophilus là
gì?). Bệnh này có thể xuất hiện thành dịch. Trong thời gian có dịch, người ta có thể lấy chất mẫu ở
họng những trẻ nghi bị bệnh để xét nghiệm và phát hiện những trẻ có mang vi trùng. Ðối với
những người có tiếp xúc với người bệnh và các trẻ bị bệnh, bác sĩ thường cho uống thuốc kháng
sinh hoặc thuốc sulfamide trong 5 ngày liền để trị hoặc phòng bệnh.
Hiện nay, đã có thuốc tiêm phòng vi trùng hémophilus, nhưng chưa có thuốc phòng bệnh hữu hiệu
đối với màng não cầu.
BệNH VI? MàNG NãO DO VI RúT - Chất lỏng lấy ra từ cột sống các cháu bị bệnh này do vi rút
thường trong vắt, không có mủ và vi trùng. Những triệu chứng của bệnh cũng giống như trên,
nhưng nhẹ hơn. Không cần thuốc kháng sinh bệnh cũng tự khỏi trong vài ngày, người ta phát hiện
bệnh bằng cách xét nghiệm kháng thể trong máu. Bệnh có THỂ DO CHÁU BỊ QUAI BỊ HAY
NHIỄM MỘT SỐ VI RÚT KHÁC.
BệNH VI? MàNG NãO DO LAO - Hiện nay hiếm thấy vì các cháu đã được tiêm BCG phòng lao
từ nhỏ.
4. Bé rụng tóc hoặc không có tóc.
Nhiều bà mẹ lo ngại con mình bị hói vì quãng đầu Bé đè lên gối khi nằm, không có tóc. Thật ra,
hiện tượng này là bình thường, chỉ do vì ma sát mà thôi. Lẽ dĩ nhiên, có nhiều đứa trẻ khác cũng
nằm như thế mà vẫn có tóc. Nhưng, tóc Bé có thể mảnh mai hơn, dễ rụng hơn và cháu hay nằm lâu
ở một tư thế hơn là các Bé khác, đặc biệt là nằm ngửa.
Nếu cháu đã lớn nhưng vẫn rụng tóc thì rõ ràng là có vấn đề cần chú ý: có thể cháu bé có thói quen
giật tóc hoặc soắn tóc mình. Ngoài ra, sau khi khỏi bệnh sốt thương hàn cũng bị rụng tóc. Một số
dược phẩm, thuốc uống cũng có tác dụng như vậy.
Một số ít các cháu có những mảng da trống không có tóc trên đầu do bị nấm tóc, cần phải chữa trị
ngay vì bệnh này có thể kéo dài và lây.
Một số trẻ từ 2 tuổi trở lên bị rụng tóc từng mảng lại do những nguyên nhân tám lý.
Nói chung, khi xác định một đứa trẻ có chứng rụng tóc, cần phải đưa cháu tới bác sĩ để tìm nguyên
nhân và chữa trị .
5. Chấy.
Một cháu bé sạch sẽ vẫn có thể lây chấy của các cháu khác, các cháu có chấy hay gãi đầu vì bị
ngứa. Nhìn kỹ vào tóc của các cháu, bạn sẽ thấy các trứng chấy nhỏ, tròn, mầu xám bám vào tóc.
Hãy gội đầu hàng ngày cho cháu bằng các chất thuốc chống chấy bán ở hiệu thuốc trong 5 ngày
liền. Hãy dùng xà phòng gội kỹ lại, chải tóc bằng lược bí (có răng lược khít).
Nhúng lược vào dấm nóng để chải rồi lấy khăn sạch trùm lên tóc các cháu một hồi lâu.
Thay và giặt áo gối, khăn trải giường và quần áo mỗi ngày cho các cháu!
6. Mắt.
Những vấn đề về mắt đã được đề cập trong những mục: đau mắt đỏ, chắp, lác v.v
Nếu đau mắt vì bị chấn thương cần phải tới ngay bác sĩ chuyên khoa mắt để khám mắt. Tất cả các
hiện tượng bất thường ở mắt nói chung; ở giác mạc, thủy tinh thể, con ngươi nói riêng, đều ảnh
hưởng tới thị giác và có thể làm khả năng nhìn của cháu bé kém đi.
PHáT HIệN MắT KéM - Cũng như việc nghe kém, việc nhìn kém của các cháu cần phải phát hiện
và tìm nguyên nhân từ sớm. Thí dụ: hiện tượng lác mắt cần phải luyện tập cho các cháu cách nhìn
theo một phương pháp riêng để chữa trị và luyện tập càng sớm càng tốt.
Có nhiều phương pháp thử nghiệm để phát hiện xem các cháu có bị kém về thị giác hay không. Có
cháu mới được vài tháng cũng cần phải đeo kính.
7. Giảm thị lực.
Trẻ mới được mấy tháng có thể mắc chứng giảm thị lực nhìn không tinh ở một bên hay cả hai bên
mắt. Có thể thử đơn giản bằng cách rọi tia sáng vào mắt cháu rồi theo dõi phản ứng. Nếu có nghi
ngờ gì phải đưa cháu đến bác sĩ chuyên khoa mắt.
8. Chắp (lẹo) mắt.
Chắp mắt là loại mụn nhỏ mọc ở bờ mi mắt, dưới chân một lông mi. Chắp chóng khỏi nhưng dễ bị
lại. Muốn trị chắp, chỉ cần bôi lên chắp loại pommát kháng sinh.
Nguyên nhân chắp là do một loại tuyến nhỏ ở bờ mi bị nhiễm trùng.
9. Chứng lác mắt.
Trong mấy tháng đầu, có lúc mắt trẻ sơ sinh có vẻ như hơi lác. Hiện tượng này về sau tự nhiên sẽ
hết, vì trong những ngày đầu của cuộc sống, hai mắt các cháu chưa phối hợp khớp với nhau mà
thôi.
Nhưng, nếu hiện tượng này kéo dài và thường xuyên thì bà mẹ phải đưa cháu tới bác sĩ chuyên
khoa mắt ngay, càng sớm càng tốt.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét