Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

Câu hình IPSEC VPN trên thiêt bị cisco

• Hỗ trợ các giao thức mạn thông dụng nhất hiện nay như TCP/IP

• Bảo mật địa chỉ IP: bởi vì thông tin được gửi đi trên VPN đã được mã hóa do đó
các điạ chỉ bên trong mạng riêng được che giấu và chỉ sử dụng các địa chỉ bên ngoài
Internet.

3. Các thành phần cần thiết để tạo kết nối VPN:

- User Authentication: cung cấp cơ chế chứng thực người dùng, chỉ cho phép người
dùng hợp lệ kết nối và truy cập hệ thống VPN.

- Address Management: cung cấp địa chỉ IP hợp lệ cho người dùng sau khi gia nhập

hệ thống VPN để có thể truy cập tài nguyên trên mạng nội bộ.

- Data Encryption: cung cấp giải pháp mã hoá dữ liệu trong quá trình truyền nhằm
bảo đảm tính riêng tư và toàn vẹn dữ liệu.

- Key Management: cung cấp giải pháp quản lý các khoá dùng cho quá trình mã hoá
và giải mã dữ liệu.

4. Các thành phần chính tạo nên VPN Cisco:

a. Cisco VPN Router: sử dụng phần mềm Cisco IOS, IPSec hỗ trợ cho việc bảo mật
trong VPN. VPN tốI ưu hóa các router như là đòn bẩy đang tồn tạI sự đầu tư của Cisco.
Hiệu quả nhất trong các mạng WAN hỗn hợp.

b. Cisco Secure PIX FIREWALL: đưa ra sự lựa chọn khác của cổng kết nốI VPN
khi bảo mật nhóm “riêng tư” trong VPN.

c. Cisco VPN Concentrator series: Đưa ra những tính năng mạnh trong việc điều
khiển truy cập từ xa và tương thích vớI dạng site-to-site VPN. Có giao diện quản lý dễ
sử dụng và một VPN client.

d. Cisco Secure VPN Client : VPN client cho phép bảo mật việc truy cập từ xa tớI
router Cisco và Pix Firewalls và nó là một chương trình chạy trên hệ điều hành
Window.

e. Cisco Secure Intrusion Detection System(CSIDS) và Cisco Secure Scanner
thường được sử dụng để giám sát và kiểm tra các vấn đề bảo mật trong VPN.
f. Cisco Secure Policy Manager and Cisco Works 2000 cung cấp việc quản lý hệ
thống VPN rộng lớn.

5. Các giao thức VPN:

Các giao thức để tạo nên cơ chế đường ống bảo mật cho VPN là L2TP, Cisco GRE
và IPSec.

a. L2TP:

- Trước khi xuất hiện chuẩn L2TP (tháng 8 năm 1999), Cisco sử dụng Layer 2
Forwarding (L2F) như là giao thức chuẩn để tạo kết nối VPN. L2TP ra đời sau với
những tính năng được tích hợp từ L2F.

- L2TP là dạng kết hợp của Cisco L2F và Mircosoft Point-to-Point Tunneling
Protocol (PPTP). Microsoft hỗ trợ chuẩn PPTP và L2TP trong các phiên bản
WindowNT và 2000

- L2TP được sử dụng để tạo kết nối độc lập, đa giao thức cho mạng riêng ảo quay số
(Virtual Private Dail-up Network). L2TP cho phép người dùng có thể kết nối thông qua
các chính sách bảo mật của công ty (security policies) để tạo VPN hay VPDN như là sự
mở rộng của mạng nội bộ công ty.

- L2TP không cung cấp mã hóa.



- L2TP là sự kết hợp của PPP(giao thức Point-to-Point) với giao thức L2F(Layer 2
Forwarding) của Cisco do đó rất hiệu quả trong kết nối mạng dial, ADSL, và các mạng
truy cập từ xa khác. Giao thức mở rộng này sử dụng PPP để cho phép truy cập VPN bởi
những ngườI sử dụng từ xa.

b. GRE:

- Đây là đa giao thức truyền thông đóng gói IP, CLNP và tất cả cá gói dữ liệu bên
trong đường ống IP (IP tunnel)

- Với GRE Tunnel, Cisco router sẽ đóng gói cho mỗi vị trí một giao thức đặc trưng
chỉ định trong gói IP header, tạo một đường kết nối ảo (virtual point-to-point) tới Cisco
router cần đến. Và khi gói dữ liệu đến đích IP header sẽ được mở ra

- Bằng việc kết nối nhiều mạng con với các giao thức khác nhau trong môi trường
có một giao thức chính. GRE tunneling cho phép các giao thức khác có thể thuận lợi
trong việc định tuyến cho gói IP.

c. IPSec:














- IPSec là sự lựa chọn cho việc bảo mật trên VPN. IPSec là một khung bao gồm bảo
mật dữ liệu (data confidentiality), tính tòan vẹn của dữ liệu (integrity) và việc chứng
thực dữ liệu.

- IPSec cung cấp dịch vụ bảo mật sử dụng KDE cho phép thỏa thuận các giao thức
và thuật tóan trên nền chính sách cục bộ (group policy) và sinh ra các khóa bảo mã hóa
và chứng thực được sử dụng trong IPSec.



d. Point to Point Tunneling Protocol (PPTP):

- Được sử dụng trện các máy client chạy HĐH Microsoft for NT4.0 và Windows
95+ . Giao thức này đựơc sử dụng để mã hóa dữ liệu lưu thông trên Mạng LAN. Giống
như giao thức NETBEUI và IPX trong một packet gửI lên Internet. PPTP dựa trên
chuẩn RSA RC4 và hỗ trợ bởI sự mã hóa 40-bit hoặc 128-bit.






- Nó không được phát triển trên dạng kết nốI LAN-to-LAN và giới hạn 255 kết nối
tớI 1 server chỉ có một đường hầm VPN trên một kết nối. Nó không cung cấp sự mã
hóa cho các công việc lớn nhưng nó dễ cài đặt và triển khai và là một giảI pháp truy cập
từ xa chỉ có thể làm được trên mạng MS. Giao thức này thì được dùng tốt trong
Window 2000. Layer 2 Tunneling Protocol thuộc về IPSec.

6. Thiết lập một kết nối VPN:

a. Máy VPN cần kết nối (VPN client) tạo kết nốt VPN (VPN Connection) tới máy
chủ cung cấp dịch vụ VPN (VPN Server) thông qua kết nối Internet.

b. Máy chủ cung cấp dịch vụ VPN trả lời kết nối tới



c. Máy chủ cung cấp dịch vụ VPN chứng thực cho kết nối và cấp phép cho kết nối

d. Bắt đầu trao đổi dữ liệu giữa máy cần kết nối VPN và mạng công ty

7. Các dạng kết nối VPN:

a. Remote Access VPNs :

Remote Access VPNs cho phép truy cập bất cứ lúc nào bằng Remote, mobile, và
các thiết bị truyền thông của nhân viên các chi nhánh kết nối đến tài nguyên mạng của
tổ chức.

Remote Access VPN mô tả việc các người dùng ở xa sử dụng các phần mềm VPN
để truy cập vào mạng Intranet của công ty thông qua gateway hoặc VPN concentrator
(bản chất là một server). Vì lý do này, giải pháp này thường được gọi là client/server.
Trong giải pháp này, các người dùng thường thường sử dụng các công nghệ WAN
truyền thống để tạo lại các tunnel về mạng HO của họ.

Một hướng phát triển khá mới trong remote access VPN là dùng wireless VPN,
trong đó một nhân viên có thể truy cập về mạng của họ thông qua kết nối không dây.
Trong thiết kế này, các kết nối không dây cần phải kết nối về một trạm wireless
(wireless terminal) và sau đó về mạng của công ty. Trong cả hai trường hợp, phần mềm
client trên máy PC đều cho phép khởi tạo các kết nối bảo mật, còn được gọi là tunnel.

Một phần quan trọng của thiết kế này là việc thiết kế quá trình xác thực ban đầu
nhằm để đảm bảo là yêu cầu được xuất phát từ một nguồn tin cậy. Thường thì giai đoạn
ban đầu này dựa trên cùng một chính sách về bảo mật của công ty. Chính sách này bao
gồm: qui trình (procedure), kỹ thuật, server (such as Remote Authentication Dial-In
User Service [RADIUS], Terminal Access Controller Access Control System Plus
[TACACS+]…).

Một số thành phần chính :

- Remote Access Server (RAS) : được đặt tại trung tâm có nhiệm vụ xác nhận và
chứng nhận các yêu cầu gửi tới.

- Quay số kết nối đến trung tâm, điều này sẽ làm giảm chi phí cho một số yêu cầu
ở khá xa so với trung tâm.

- Hổ trợ cho những người có nhiệm vụ cấu hình, bảo trì và quản lý RAS và hổ trợ
truy cập từ xa bởi người dùng.



Figure 1-2: The non-VPN remote access setup.
- Bằng việc triển khai Remote Access VPNs, những người dùng từ xa hoặc các chi
nhánh văn phòng chỉ cần cài đặt một kết nối cục bộ đến nhà cung cấp dịch vụ ISP hoặc
ISP’s POP và kết nối đến tài nguyên thông qua Internet. Thông tin Remote Access
Setup được mô tả bởi hình vẽ sau :

Figure 1-3: The Remote Access VPN setup
Như bạn có thể suy ra từ hình 1-3, thuận lợi chính của Remote Access VPNs :
- Sự cần thiết của RAS và việc kết hợp với modem được loại trừ.

- Sự cần thiết hổ trợ cho người dung cá nhân được loại trừ bởi vì kết nối từ xa đã
được tạo điều kiện thuận lợi bời ISP

- Việc quay số từ những khoảng cách xa được loại trừ , thay vào đó, những kết nối
với khoảng cách xa sẽ được thay thế bởi các kết nối cục bộ.

- Giảm giá thành chi phí cho các kết nối với khoảng cách xa.

- Do đây là một kết nối mang tính cục bộ, do vậy tốc độ nối kết sẽ cao hơn so với
kết nối trực tiếp đến những khoảng cách xa.

- VPNs cung cấp khả năng truy cập đến trung tâm tốt hơn bởi vì nó hổ trợ dịch vụ
truy cập ở mức độ tối thiểu nhất cho dù có sự tăng nhanh chóng các kết nối đồng thời
đến mạng.
Ngoài những thuận lợi trên, VPNs cũng tồn tại một số bất lợi khác như :
- Remote Access VPNs cũng không bảo đảm được chất lượng phục vụ.

- Khả năng mất dữ liệu là rất cao, thêm nữa là các phân đoạn của gói dữ liệu có thễ
đi ra ngoài và bị thất thoát.

- Do độ phức tạp của thuật toán mã hoá, protocol overhead tăng đáng kể, điều này
gây khó khăn cho quá trình xác nhận. Thêm vào đó, việc nén dữ liệu IP và PPP-based
diễn ra vô cùng chậm chạp và tồi tệ.

-
Do phải truyền dữ liệu thông qua Internet, nên khi trao đổi các dữ liệu lớn như các
gói dữ liệu truyền thông, phim ảnh, âm thanh sẽ rất chậm.

b. Site - To – Site (Lan – To - Lan):

- Site-to-site VPN(Lan-to-Lan VPN):được áp dụng để cài đặt mạng từ một vị trí
này kết nốI tớI mạng của một vị trí khác thông qua VPN. Trong hoàn cảnh này thì việc
chứng thực ban đầu giữa các thiết bị mạng được giao cho người sử dụng. Nơi mà có
một kết nốI VPN được thiết lập giữa chúng. Khi đó các thiết bị này đóng vai trò như là
một gateway, và đảm bảo rằng việc lưu thông đã được dự tính trước cho các site khác.
Các router và Firewall tương thích vớI VPN, và các bộ tập trung VPN chuyên dụng
đều cung cấp chức năng này.




- Lan-to-Lan VPN có thể được xem như là intranet VPN hoặc extranet VPN(xem
xét về mặt chính sách quản lý). Nếu chúng ta xem xét dướI góc độ chứng thực nó có thể
được xem như là một intranet VPN, ngược lạI chúng được xem như là một extranet
VPN. Tính chặt chẽ trong việc truy cập giữa các site có thể được điều khiển bởi cả
hai(intranet và extranet VPN) theo các site tương ứng của chúng. Giải pháp Site to site
VPN không là một remote access VPN nhưng nó được thêm vào đây vì tính chất hoàn
thiện của nó.

- Sự phân biệt giữa remote access VPN và Lan to Lan VPN chỉ đơn thuần mang
tính chất tượng trưng và xa hơn là nó được cung cấp cho mục đích thảo luận. Ví dụ như
là các thiết bị VPN dựa trên phần cứng mớI(Router cisco 3002 chẳng hạn) ở đây để
phân loạI được, chúng ta phảI áp dụng cả hai cách, bởI vì harware-based client có thể
xuất hiện nếu một thiết bị đang truy cập vào mạng. Mặc dù một mạng có thể có nhiều
thiết bị VPN đang vận hành. Một ví dụ khác như là chế độ mở rộng của giảI pháp Ez
VPN bằng cách dùng router 806 và 17xx.

- Lan-to-Lan VPN là sự kết nốI hai mạng riêng lẻ thông qua một đường hầm bảo
mật. đường hầm bảo mật này có thể sử dụng các giao thức PPTP, L2TP, hoặc IPSec,
mục đích của Lan-to-Lan VPN là kết nốI hai mạng không có đường nốI lạI vớI nhau,
không có việc thỏa hiệp tích hợp, chứng thực, sự cẩn mật của dữ liệu. bạn có thể thiết
lập một Lan-to-Lan VPN thông qua sự kết hợp của các thiết bị VPN Concentrators,
Routers, and Firewalls.

- Kết nốI Lan-to-Lan được thiết kế để tạo một kết nốI mạng trực tiếp, hiệu quả bất
chấp khoảng cách vật lý giữa chúng. Có thể kết nốI này luân chuyển thông qua internet
hoặc một mạng không được tin cậy.Bạn phảI đảm bảo vấn đề bảo mật bằng cách sử
dụng sự mã hóa dữ liệu trên tất cả các gói dữ liệu đang luân chuyển giữa các mạng đó.

1. Intranet VPNs:


Figure 1-4: The intranet setup using WAN backbone

- Intranet VPNs được sữ dụng để kết nối đến các chi nhánh văn phòng của tổ chức
đến Corperate Intranet (backbone router) sữ dụng campus router, xem hình bên dưới :

- Theo mô hình bên trên sẽ rất tốn chi phí do phải sữ dụng 2 router để thiết lập được
mạng, thêm vào đó, việc triển khai, bảo trì và quản lý mạng Intranet Backbone sẽ rất
tốn kém còn tùy thuộc vào lượng lưu thông trên mạng đi trên nó và phạm vi địa lý của
toàn bộ mạng Intranet.

- Ðể giải quyết vấn đề trên, sự tốn kém của WAN backbone được thay thế bởi các
kết nối Internet với chi phí thấp, điều này có thể một lượng chi phí đáng kể của việc
triển khai mạng Intranet, xem hình bên dưới :



Figure 1-5: The intranet setup based on VPN.

Những thuận lợi chính của Intranet setup dựa trên VPN theo hình 1-5 :

- Hiệu quả chi phí hơn do giảm số lượng router được sữ dụng theo mô hình WAN
backbone

- Giảm thiểu đáng kể số lượng hổ trợ yêu cầu người dùng cá nhân qua toàn cầu, các
trạm ở một số remote site khác nhau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét