Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua một số thời kỳ

Mục lục
I - Lời nói đầu
II - Nội dung
1. Những vấn đề lý luận về lạm phát.
1.1. Khái niệm
1.2. Các Loại hình của lạm phát
1.3. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
2. Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.
2.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
2.2. Những hậu quả của lạm phát
3. Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua một số thời
kỳ.
3.1. Giải pháp đối phó với lạm phát.
3.2. Thực tế lạm phát ở Việt Nam.
III - Kết luận
Tài liệu tham khảo
1
I - Lời nói đầu
Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ đối với một nền kinh tế hàng hoá và hầu
hết quảng đại quần chúng đã có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát ở những
mức độ khác nhau, nhng để hiểu một cách chính xác lạm phát là gì thì thật là không
rễ. ở đây ta có thể hiểu một cách nôm na rằng lạm phát là: lạm phát trong lĩnh vực lu
thông tràn ngập khối lợng tiền thừa làm cho tiền tệ ngày càng mất giá so vời toàn bộ
các sản phẩm hàng hoá, vàng và để lại những hậu quả hết sức trầm trọng cho nền
kinh tế. Qua học tập và nghiên cứu ở trờng và đợc các thầy cô Khoa Tài chính - Kế
toán đã tận tình giảng dạy, hớng dẫn để em hoàn thành phần tiểu luận này. mặc dù
em đã rất cố gắng song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em
mong các thầy cô khoa Tài chính - Kế toán thông cảm cho những thiếu sót của em và
mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy cô.

2
II - Nội dung
1. Những vấn đề lý luận về lạm phát.
1.1. Khái niệm
Vậy lạm phát là gì ? đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và
mỗi quan điểm đều có sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình.
Theo L.V.chandeler, D.C cliner với trờng phái lạm phát giá cả thì khẳng
định :lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn , chu kỳ hay đột
xuất.
G.G. Mtrukhin lại cho rằng : Trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trớc hết
thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới
việc tăng giá cả nói chung. Với ý nghĩa nh vậy có thể xem sự mất giá của đồng tiền
là lạm phát. Ông cũng chỉ rõ: lạm phát, đó là hình thức tràn trề t bản một cách tiềm
tàng ( tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành
kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân c xã hội.
ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh tế
học đã đợc dịch ra tiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xẩy ra khi mức
chung của giá cả chi phí tăng lên.
Với luận thuyết Lạm phát lu thông tiền tệ J.Bondin và M. Friendman lại
cho rằng lạm phát là đa nhiều tiền thừa vào lu thông làm cho giá cả tăng lên.
M.Friedman nói lạm phát ở mọi lúc moị nơi đều là hiện tợng của lu thông tiền tệ.
Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lợng tiền trong lu thông tăng
lên nhanh hơn so với sản xuất
Nh vậy, tất cả những luận thuyết, những quan điểm về lạm phát đã nêu trên
đều đa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát, và theo quan điểm của tôi
3
về vấn đề này sau khi nghiên cứu một số luận thuyết ở trên thì nhận thấy ở một khía
cạnh nào đó của lạm phát thì: khi mà lợng tiền đi vào lu thông vợt mức cho phép thì
nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại hàng hoá khác.
1.2. Các Loại hình của lạm phát
Cũng nh ở trên đã có rất nhiều cách hiểu ở các góc độ khác nhau về lạm phát
thì ở phần này cũng nh vậy ngời ta có thể phân loại lạm phát theo nhiều tiêu chí
khác nhau.
- Căn cứ vào tốc độ lạm phát, ngời ta chia lạm phát ra làm ba loại
+ Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát xẩy ra với tốc độ gia tăng giá cả chậm,
chỉ ở mức một con số hay dới 10%.
+ lạn phát phi mã:là loại lạm phát biết đợc khi giá cả đạt tới ngỡng từ 2 con
số đến 3 con số ( 20%,100%,200%) một năm.
+ Siêu lạm phát : Siêu lạm phát là thời kì mà tốc độ tăng giá vợt xa mức lạm
phát phi mã và vô cùng không ổn định.
- Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ngời ta phân biệt
+ Lạm phát cầu d thừa tổng quát
+ Lạm phát chi phí đẩy
+ Lạm phát cơ cấu
+ Lạm phát nhập khẩu
- Căn cứ vào tính chất chủ động bị động từ phía chính phủ đối phó với lạm
phát ngời ta chia ra:
+ Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trớc
+ lạm phát không cân bằng và không dự đoán trớc
- Căn cứ voà quá trình bộc lộ hiện hình lạm phát ngời ta phân biệt
+ Lạm phát ngầm đây là loại lạm phát đang ở giai đoạn ẩn náu, bị kiềm chế
về t ốc độ tăng giá.
+ Lạm phát công khai đây là loại lạm phát mà sự tăng giá cả hàng háo, dịch
vụ rõ rệt trên thị trờng.
4
1.3. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
Lạm phát tác động mọi mặt tới nền kinh tế và sự tác động đó theo hai chiều
hớng đó là tích cc và tiêu cực.
+ Các tác động tiêu cực của lạm phát.
Tiêu cực của lạm phát có thể có ở một số tác đông sau:
- Vì làm rối loạn chức năng thớc đo giá trị của tiền tệ nên lạm phát xuyên
tạc, bóp méo, làm biến dạng các yếu tố của thị trờng
- Kinh doanh không thể tiến hành bình thờng đợc. bản thân vai trò điều tiết
nền kinh tế của chính phủ thông qua tiền tệ và thuế cũng bị xuy giảm, thậm chí bị
vô hiệu hoá, do mức thuế trở nên vô nghĩa trớc tốc độ tăng lạm phát thời kì phi mã
hoặc siêu lạm phát.
- Lạm phát kiềm chế các đầu t dài hạn, kích thích đầu t ngắn hạn có tính đầu
cơ. gây ra tình trạng khan hiếm hàng hoá,
- Lạm phát làm suy yếu thậm chí phá vỡ thị tròng vốn và tín dụng.
- Việc phân phối thu nhập thờng kém đồng đều trong các thời kỳ lạm phát.
- Lạm phát làm tăng nguy cơ phá sản do vỡ nợ và làm tăng chi phí dịch vụ
nợ nớc ngoài tính bằng ngoại tệ của cả các doanh nghiệp lẫn chính phủ, do lạm phát
thờng kéo theo việc điều chỉnh nâng tỷ giá và lãi suất đồng bản tệ với t cách là các
giải pháp nhằm thích nghi và kiềm chế lạm phát.
- Dòng đầu t nớc ngoài đổ vào bị chậm, chững lại, thậm chí còn bị suy giảm,
đi đôi với sự ra đi của vốn tronh nớc là do sự mất ổn định của của giá cả và tiền tệ.
+ Các tác động tích cực của lạm phát
Lạm phát không phải bao giờ cũng gây ra những tiêu cực nh trên bên cạnh
đó nó còn có một số mặt tích cực sau.
- lạm phát tựa nh dầu mỡ giúp bôi trơn nền kinh tế. trong điều kiện nào đó
có thể thông qua lạm phát từ 2%-4%/năm để bỏ ngỏ khả năng có những lãi suất thực
âm có tác dụng kích thích tiêu dùng, vay nợ đầu t, do đó giảm bớt thất nghiệp xã hội
kích thích tăng trởng kinh tế.
5
- Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu
t vào những lĩnh vực kém u tiên thông qua mở rộng tín dụng và tài trợ lạm phát.giúp
phân phối lại thu nhập và các nguồn lực xã hội theo định hớng mục tiêu và tronh
khoảng thời gian nhất định có chọn lọc.
Nh vậy ta có thể nói rằng bên cạnh nhữnh tác hại của lạm phát thì vẫn còn
những mặt có lợi của nó.nếu nh một nớc nào đó có thể duy trì mức lạm phát ở mức
vừa phải và kiềm chế, điều tiết đợc mức lạm phát đó có lợi cho sự phát triển kinh tế
thì lạm phát ở đây không còn là một căn bệnh nguy hiểm của nền kinh tế nữa, mà nó
đã trở thành một công cụ điều tiết kinh tế .
2. Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.
2.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
- Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lạm phát, song dù có những
sự khác nhau nh thế nào đi nữa thì cấc cuộc lạm phát đều có những nguyên nhân có
tính chất chung đó là:
+ Những nguyên nhân có liên quan đến chính sách của nhà nớc nh: Chính
sách tiền tệ và tài chính của nhà nớc, phát hành tiền đáp ứng các nhu cầ chi tiêu của
nhà nớc quá mức, định mức cho vay và lãi suất thấp hơn mức lạm phát, chính sách
thuế không hợp lý, không đảm bảo đợc các nguồn thu chính sách cơ cấu kinh tế
không hợp lý khuyến khích các ngành có chi phí cao kém hiệu quả phát triển.
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các chủ thể kinh doanh làm tăng chi
phí tiền lơng, nguyên nhiên liệu
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện quốc tế: Chiến tranh,
giá dầu mỏ tăng
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện tự nhiên: Thiên tai,
động đất
Tuỳ theo các điều kiên cụ thể mà có thể có những cuộc lạm phát bắt nguồn từ
một hoặc hai nguyên nhân.
2.2. Những hậu quả của lạm phát
6
Qua thực tế của lạm phát ta thấy rằng hậu quả của nó để lại cho nền kinh tế
là rất trầm trọng, nó thể hiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là một số hậu quả
sau:
- Xã hội không thể tính toán hiệu qủa hay điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh của mình một cách bình thờng đợc do tiền tệ không còn giữ đợc chức năng
thớc đo giá trị hay nói đúng hơn là thớc đo này bị co giãn thất thờng.
- Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nớc điều tiết nền
kinh tế đã bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa, các
biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và do vậy
tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trờng hợp nhà nớc có thể chỉ số
hoá luật thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng bị
hạn chế.
- Phân phối lại thu nhập làm cho một số ngời nắm giữ các hàng hoá có giá
cả tăng đột biến giầu lên nhanh chóng và những ngời có các hàng hoá mà giá cả của
chúng không tăng hoặc tăng chậm và ngời giữ tiền bị nghèo đi.
- Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc gây ra
tình trạng khan hiếm hàng hoá không bình thờng và lãng phí.
- Xuyên tạc, bóp méo các yếu tố của thị trờng làm cho các điều kiện của thị
trờng bị biến dạng. hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hoá,
giá cả tiền tệ, giá cả lao động một khi những giá cả này tăng hay giảm đột biến và
liên tục , thì các yếu tố của thị trờng không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp
méo.
- Sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành nào có lợi nhuận
cao.
- Ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngày càng giảm
về mặt giá trị.
- Đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình rhờng của ngân hàng
bị phá vỡ, ngân hàng không thu hút đợc các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội.
7
- Đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân về hàng hoá
tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lợng về hàng hoá tiêu dùng, đặc biệt là
đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn. mặt khác lạm phát cũng làm
thay đổi nhu cầu tiêu dùng, khi lạm phát gay gắt sẽ gây nên hiện tợng mọi ngời tìm
cách tháo chạy khỏi đồng tiền tức là không muốn giữ và cất giữ đồng tiền mất giá
bằng cách họ xẽ tìm mua bất kỳ hàng hoá dù không có nhu cầu để cất trữ từ đó làm
giầu cho những ngời đầu cơ tích trữ.
Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soát lạm phát và giữ
lạm phát ở mức độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn của mọi nền
kinh tế hàng hoá. Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không có nghĩa là phải đa
lạm phát ở mức bằng không tức là nền kinh tế không có lạm phát mà phải duy trì
mức lạm phát ở một mức độ nào đó phù hợp vơí nền kinh tế bởi vì lạm phát không
phải hoàn toàn là tiêu cực, nếu nh một quốc gia nào đó có thể duy trì đợc mức lạm
phát vừa phải và kiềm chế, có lợi cho sự phát triển kinh tế thì ở quốc gia đó lạm phát
không còn là mối nguy hại cho nền kinh tế nữa mà nó đã trở thành một công cụ đắc
lực giúp điều tiết và phát triển kinh tế một cách hiệu quả .
3. Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua
một số thời kỳ.
3.1. Giải pháp đối phó với lạm phát.
Các giải pháp đối phó với lạm phát nói chung cúng chỉ nhằm hai mục tiêu
chính đó là rút bớt lợng tiền thừa trong lu thông và gia tăng số lợng hàng hoá để đáp
ứng nhu cầu của dân chúng. Những giải pháp mà các nớc thờng áp dụng để đối phó
với lạm phát là:
- Chính sách tiền tệ.
Chính sách này đợc thực hiện theo hớng thắt chạt cung ứng tiền tệ.
- Chính sách chi - thu ngân sách.
+ Tiết kiệm chi ngân sách, nâng cao hiệu quả thu ngân sách và hạn chế tình
trạng bội chi ngân sách.
8
- Chính sách giá cả.
Nhà nớc thực hiên chính sách kiểm soát giá cả đối với các lĩnh vực:nông sản,
công nghiệp, thơng nghiệp, nhập khẩu và dịch vụ.
- Chỉ số hoá tiết kiệm.
ở biện pháp này có hai ý kiến đối lập nhau. Một ý kiến cho rằng chỉ số hoá
tiền để dành có thể coi là một vũ khí chống lạm phát có hiệu lực. ý kiến khác lại cho
rằng biện pháp này làm cho lạm phát bùng nổ mạnh mẽ hợn. để khắc phục nhợc
điểm các nàh kinh tế đa ra các kiến nghị sau:
+ Không nên chỉ số hoá tất cả các khoản nợ, mà chỉ nên chỉ số hoá các khoản
nợ có tính chất ổn định.
+ Các khoản nợ không ổn định, từng định kỳ đợc đánh giá lại cả vốn và lãi
theo tỷ lệ diễn biến giá sinh hoạt.
- Chính sách thu nhập.
Bao gồm các loại sau.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất quy định, tức là nhà nớc tham gia tối
đa vào việc xác định các khoản thu nhập một cách đơn phơng.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất hợp đòng dựa trên sự thoả thuận giữa
các thành phần xã hội.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất hớng dẫn.
+ Chính sách thu nhập mang tính chất khuyến khích, đang có xu hớng áp
dụng xuấng tận xí nghiệp, cho quyền chủ và công nhân tự ra quyết định về chính
sách thu nhập.
- Chính sách tỷ giá.
Việc áp dụng chính sách tỷ giá có sự kiểm soát chặt chẽ, đợc hỗ trợ bằng
cánh tung dự trữ ngoại hối ra để duy trì tỷ giá ngày càng CM tính hữu hiệu của nó
tronh việc kiềm chế lạm phát. tuy nhiên cần phải phục hồi ngay dự trữ ngoại hôi sau
mỗi cuộc khủng hoảng.
9
- Nhập khẩu
Biện pháp này có tính cấp thời để đa vào thị trờng trong nớc các mặt hàng
đang thiếu hay lên gíatuy nhiên nó có một số tác hại.
+Số vàng và ngoại tệ dự trữ của QG bị hoa hụt.
+Vay nợ nớc ngoài nhiều do kinh tế kiệt quệ.
+Tạo cho dân chúng thói quen tiêu thụ hàng ngoại nhập.
- Gia tăng sản xuất các mặt hàng trong nớc.
Biện pháp này là biện pháp cơ bản trong chiến lợc chống lạm phát, nhằm tăng
hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế.
3.2. Thực tế lạm phát ở Việt Nam.
ởViệt Nam xét dới góc độ quan điểm và chính sách đối với vấn đề lạm
phát có thể chia diễn biến quá trình này ở việt nam thành bốn thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất , từ năm 1976 đến năm 1980: là thời kỳ đợc coi là
không có lạm phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nớc xã hội
chủ nghĩa đơng thời và không đợc phản ánh trong các thống kê chính thức .Tuy
nhiên, trên thực tế ở việt nam khi đó vẵn có lạm phát, thể hiện ỏ sự khan hiếm hàng
hoá ,dịch vụ và sự giảm sút của chúng, đồng thời đợc hi nhận trong sự diễn biến gia
tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị trờng xã hội trên dới 20% trên
một năm và đó là lạm phát của nền kinh tế kém phát triển và đang trong giai đoạn
chuyển đổi cơ chế , nơi độc quyền nhà nớc còn mang đậm tính chất phi kinh tế và
đợc dung dỡng bởi các chỉ thị của nhà nớc và tồn tại thống trị phổ biến trong tất cả
các lĩnh vực. Vào thời kỳ này khu vực kinh tế nhà nớc chiếm khoảng 85 - 87% vốn
cố định, 95% lao động lành nghề mà chỉ tạo ra 30 37% tổng sản phẩm xã hội.
Trong khi đó khu vực kinh tế t nhân chỉ chiếm 13,2% sức lao động xã hội và suốt
thời kỳ dài trớc năm 1986 bị nhiều sức ép kiềm chế , xong lại sản xuất ra tới 32
43% tổng sản phẩm xã hội và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất so với khu vực kinh tế
quốc doanh và hợp tác xã.
10
Mặt khác lạm phát ở việt nam diễn ra trong suốt nền kinh tế đóng cửa phụ
thuộc nhiều vào nguồn viện trợ bên ngoài.Trên thực tế , trớc năm 1988không có đầu
t trực tiếp của nớc ngoàI vào Việt Nam. Các biên giới đều bị khép lại với chế độ
xuất nhập cảnh cũng nh lu thông hàng hoá rất nghiêm ngặt, phiền phức .Cơ cấu chủ
yếu có tính hớng nội ,khép kín ,thay thế hàng nhập khẩu và không khuyết khích
xuất khẩu . Cùng với chính sách định hớng phát triển và đầu t có nhiều bất cập , nên
cơ cấu kinh tế việt nam bị mất cân đối và không hợp lý nghiêm trọng giữa công
nghiệp nông nghiệp , công nghiệp nặng - công nghiệp nhẹ, nhất là ngành sản
xuất hàng tiêu dùng , giữa sản xuất dịch vụ .Đó là nguyên nhân dẫn đến tình
trạng khan hiếm hàng hoá, dịch vụ, tăng chi phí sản xuất, thiếu hụt ngân sách chiền
miên , tăng mức cung tiền không tuân theo quy luật lu thông tiền tệ và do đó gy ra
lạm phát .
- Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ từ năm 1981 đến năm 1988: là thời kỳ lạm phát
chuyển từ dạng ẩn sang dạng mở.Thực tế cho thấy rằng từ năm 1981 đến năm
1988 chỉ số tăng giá đều trên 100% một năm . Vào năm 1983 và 1984 đã giãm
xuống, nhng năm 1986 đã tăng vọt tới mức cao nhất là 557% sau đó có giảm. Nhu
vậy mức lạm phát cao và không ổn định . song vấn đề lạm phát cha đợc thừa nhận
trong các văn kiện chính thức. Vấn đề này chỉ đợc quy vào sử lý các khía cạnh giá
- lơng- tiền, mà lại chủ yếu bằng các giải pháp hành chính ,nh xem xét và đIều
chỉnh đơn giản giá cả trong khu vực thị trờng có tổ chức những năm 1981 ,
1983,1987,vàbù vào giá lơng dổi tiền năm 1985Đây là thời kì xuất hiện siêu
lạm phát với 3 chữ số kéo dài suốt 3 năm 1986-1988,và đạt đỉnh cao nhất trong lịch
sử kinh tế hiện đại nớc ta suốt nửa thế kỉ nay
- Thời kỳ th ba, từ tháng 5-1988 đến năm 1991 là thời kỳ mà lần đầu tiên
lạm phát đợc chính thức đợc thừa nhận bằng nghị quyết số 11 của uỷ ban trung ơng
đảng cộng sản việt nam về đấu tranh với lạm phát. Ngay sau quyết định ra đời,
những chơng trình chống lạm phát đợc soạn thảo ở nhiều cơ quan thuộc nhiều cấp ,
các ngành khác nhau. Có nhiều dự án ra đời. Các biện pháp chống lạm phát đợc gắn
11
với quá trình đổi mới, tực hiện các cải cách thị trờng ở việt nam. Song chúng mới ở
dạng thử nghiệm , cha đồng bộ, ngập ngừng, lúc tiến lúc lùi với những đợt sốc
nhỏ, đã thu đợc thành công đáng kể năm 1989 , sau đó bị trững lại do tình hình
trong nớc và quốc tế biến động mạnh.
12
III - Kết luận
Lạm phát là một vấn đề trung tâm và nhậy cảm hàng đầu của đời sống kinh
tế- xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế. Với t cách là kết quả tổng hoà của các chính
sách kinh tế xã hội vĩ mô, cũng nh các hoạt động kinh doanh vi mô trong sự hoà
quện và ảnh hởng tơng tác với bối cảnh chung của nền kinh tế khu vực và thế giới,
lạm phát đến lợt mình đã có sự tác động gián tiếp hoặc trực tiếp , nhanh hoặc chậm,
tích cực hoặc tiêu cực, ở mức đọ này hay mức độ khác đến toàn bộ các lĩnh vực và
khía cạnh hoạt động của chính phủ, doanh nghiệp và cá nhân. Nói chung khi nói tới
lạm phát là nói tới sự tác động mạnh mẽ của nó tới nền kinh tế, sự tác động đó luôn
luôn biến đổi và ở một khía cạnh nào đó thì lạm phát là một động lực để phát triển
nền kinh tế.
Trong khuôn khổ một bài tiểu luận ở mức độ Đại học, với kiến thức đợc
trang bị ở trờng và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, tác giả của bài tiểu luận chỉ
dừng lại ở một số vấn đề lí luận cơ bản về lạm phát và tác giả của bài viết này không
có tham vọng đa ra những những nhận định mới mẻ mang tính phát hiện mà chỉ
mong muốn vận dụng những hiểu biết này để phân tích bài tiểu luận đợc tốt. Hy
vọng ở những nghiên cứu tiếp theo trong quá trình học tập, tác giả sẽ có những ý t-
ởng sâu sắc và phong phú hơn.
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét