Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
Chính phủ giao cho Bộ trởng, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ơng và thủ trởng cơ quan thuộc thẩm quyền thực hiện
công tác xét duyệt hồ sơ mời thầu, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự
thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, kiểm tra, theo dõi chỉ
đạo bên mời thầu thực hiện đúng quy chế đấu thầu.
5
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
1.2 Khái niệm đấu thầu lắp đặt:
Đây là một hình thức đấu thầu thuộc đấu thầu mua sắm vật t thiết
bị, bởi lẽ hoạt động lắp đặt chỉ đ ợc tiến hành khi đã hoàn tất công
việc mua sắm. Hình thức đấu thầu này đợc áp dụng rất rộng rãi, đặc
biệt trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, khi mà ngày càng có nhiều
đơn vị kinh doanh có khả năng đáp ứng nhu cầu của cùng một khách
hàng, điều này đồng nghĩa với việc khách hàng luôn có quyền chủ
động trong lựa chọn nhà thầu có khả năng nhất, phù hợp với những
yêu cầu của mình, nhằm đảm bảo tính kinh tế của dự án. Tuy nhiên,
đứng ở các góc độ khác nhau sẽ có các cách nhìn khác nhau về loại
hình này.
- Về phía chủ đầu t với cơng vị nh một ngời đi mua hàng thì đấu
thầu là một cách thức tập hợp tất cả các nhà thầu (ng ời bán) có khả
năng, để từ đó lựa chọn đợc nhà thầu phù hợp nhất. Đồng thời buộc
nhà thầu phải có trách nhiệm hơn đối với sản phẩm của mình, cả tr -
ớc và sau khi hoàn tất công việc đấu thầu(mua bán).
- Về phía các nhà thầu: Đấu thầu là một hình thức cạnh tranh lành
mạnh trong kinh doanh, mà thông qua đó nhà thầu có đ ợc cơ hội để
thể hiện đợc những u thế của mình với chủ đầu t. Từ đó, bán đợc
sản phẩm và tăng dần uy tín của mình trên thị tr ờng.
- Đứng dới góc độ quản lý nhà nớc: Đấu thầu là một hình thức hợp
tác bảo đảm tính pháp lý cao, nó gắn chặt hơn trách nhiệm và nghĩa
vụ của mỗi bên khi tham gia hợp đồng đấu thầu. Tạo điều kiện cho
cơ quan nhà nớc trong quản lý các hoạt động buôn bán.
Nh vậy, đấu thầu cũng giống nh việc mua bán. ở đây ngời bán là
các nhà thầu còn ngời mua là các chủ đầu t, họ thực hiện giao dịch
mua bán này ngoài việc phải tuân theo một quy định chung
của nhà nớc, còn phải tuân theo các thoả thuận chung của hai bên.
Khi tham gia và giao dịch này, mỗi bên đều cố gắng tìm kiếm những
mục đích của riêng họ, Với chủ đầu t thì họ mong sao sẽ có đợc
những thiết bị có công nghệ hiện đại, có chất l ợng tốt để thoả mãn
nhu cầu thực tại mà chỉ mất một lợng chi phí tối thiểu. Còn với nhà
6
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
thầu, họ mong sao sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận nhất từ dự án đồng
thời tạo điều kiện để đạt đợc các mục
tiêu Marketing tiếp theo.
Ta có thể khái quát nội dung chung của đấu thầu lắp đặt bằng sơ
đồ sau:
Sơ đồ1 : Khái quát nội dung đấu thầu lắp đặt
Nh vậy thực chất của đấu thầu lắp đặt chính là một vụ mua-
bán đặc biệt giữa nhà thầu (bên bán) và bên mời thầu (bên mua).
2. Nguyên tắc cơ bản đợc quy định trong tham gia đấu thầu lắp
đặt:
Cũng nh bất cứ một phơng thức kinh doanh nào, phơng thức kinh
doanh theo hình thức đấu thầu đòi hỏi cũng phải có những quy tắc
chung cần phải tuân thủ. Những nguyên tắc này, chi phối đồng thời
cả hai bên (chủ đầu t và nhà thầu). Nó bao gồm:
- Nguyên tắc công bằng:
Nguyên tắc này thể hiện quyền bình đẳng nh nhau của các bên
tham gia đấu thầu, nó yêu cầu bên mời thầu phải có nghĩa vụ đối xử
bình đẳng gắn với quyền lợi của các nhà thầu, đợc cung cấp lợng
thông tin nh nhau từ phía chủ đầu t, đợc trình bày một cách khách
Chủ đầu tư
(Bên mua)
Các nhà thầu
(Bên bán)
Chọn nhà thầu
(Sản phẩm)
Hợp đồng
(Trao đổi)
Các yêu cầu
Năng lực
đánh
giá
7
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
quan ý kiến của mình trong quá trình chuẩn bị hồ sơ cũng nh trong
buổi mở thầu. Nguyên tắc này là rất quan trọng, nó mang lại lợi ích
cho không chỉ nhà thầu mà cả với chủ đầu t , bởi lẽ nó giúp cho chủ
đầu t lựa chọn đợc đúng nhà thầu có khả năng thực tế.
- Nguyên tắc bí mật:
Nguyên tắc này áp dụng chủ yếu với chủ đầu t, họ phải có nghĩa
vụ tuyệt đối giữ bí mật về số liệu, thông tin cho nhà thầu nh : Mức
giá có thể chấp nhận của chủ đầu t, mức giá dự thầu (đến khi mở
thầu), các trao đổi của các nhà thầu với chủ đầu t Bởi nó có liên
quan trực tiếp tới quyền lợi của nhà thầu, giả sử nh thông tin về
mức giá dự thầu hay các điều kiện thực hiện thầu của một nhà thầu
nào đó bị bại lộ thì các nhà thầu khác có thể dự thầu với mức giá
thấp hơn hoặc cung cấp hơn một dịch vụ nào đấy để tăng khả năng
trúng thầu. Mục đích của nguyên tắc này là đảm bảo lợi ích và tránh
thiệt hại cho mỗi bên về sau, dù là họ có trúng thầu hay không.
- Nguyên tắc công khai:
Nguyên tắc này mang tính bắt buộc. Ngoài một số công trình đặc
biệt mang tính bí mật quốc gia, còn lại với hầu hết các công trình
khác khi có áp dụng đấu thầu chủ đầu t phải có nghĩa vụ đảm bảo
tính công khai về những thông tin liên quan đến dự án trong khi
mời thầu và giai đoạn mở thầu, tuy nhiên mức độ công khai rộng
hay hẹp tuỳ thuộc vào quy mô của gói thầu. Mục đích của nguyên
tắc này cũng là nhằm thực hiện nguyên tắc công bằng (các nhà thầu
đều có cơ hội nhận biết thông tin về cuộc đấu thầu nh nhau) và thu
hút đợc nhiều hơn các nhà thầu với phơng châm tất cả các nhà thầu
có khả năng đều có quyền đợc tham gia, từ đó nâng cao chất lợng
của công tác đấu thầu.
- Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ
Nguyên tắc này đòi hỏi các bên phải có đủ năng lực thực tế về
kinh tế, kĩ thuật và tài chính để thực hiện những cam kết khi tham
gia đấu thầu, họ phải có nghĩa vụ thể hiện đợc khả năng thực sự của
mình cho chủ đầu t để họ có những đánh giá sơ bộ về năng lực nhà
8
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
thầu, một mặt nhằm đảm bảo cho quyền lợi của chủ đầu t mặt khác
để hợp đồng đợc thực hiện đầy đủ, tránh tình trạng phải dừng lại
giữa chừng, làm mất tính hiệu quả của công tác đấu thầu,
gây thiệt hại cho bên chủ đầu t và cho nhà nớc.
- Nguyên tắc bảo đảm cơ sở pháp lý
Nguyên tắc này yêu cầu các bên tham gia đấu thầu tr ớc hết phải
có nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ các quy định của nhà nớc, bên cạnh đó
còn phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy ớc chung mà hai bên đã
xây dựng trong quá trình đàm phán trên cơ sở những quy định pháp
lý đã đợc ban hành và các thoả thuận chung. Vì nó có liên quan trực
tiếp đến quyền lợi của mỗi bên. Nếu có một sự vi phạm nào đấy thì
hai bên hoặc là có thể tự gíải quyết hoặc là có thể yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền đứng ra làm trung gian đại diện cho pháp luật giải
quyết những vi phạm đó nhằm bảo đảm lợi ích cho bên bị vi phạm.
Qua đó hoặc là bên vi phạm phải bồi th ờng cho bên bị vi phạm hoặc
là buộc phải chấm dứt hợp đồng.
3. Hình thức dự thầu và phơng thức đấu thầu:
3.1 Hình thức dự thầu:
Việc thực hiện dự thầu có thể đợc thực hiện theo theo ba hình
thức sau đây(theo quy định tại điều 4 của nghị định số 88/1999/NĐ
- CP ngày 01 tháng 09 năm 1999):
- Đấu thầu rộng rãi
Là hình thức không hạn chế số lợng nhà thầu tham gia. Bên nhà
thầu phải thông báo công khai trên các phơng tiện thông tin đại
chúng tối thiểu là 10 ngày trớc khi phát hành hồ sơ mời thầu và ghi
rõ các điều kiện, thời gian dự thầu. Đối với những gói thầu lớn,
phức tạp về công nghệ và kĩ thuật, bên mời thầu phải tiến hành sơ
tuyển để lựa chọn nhà thầu có đủ t cách và năng lực tham gia đấu
thầu. Với hình thức này, bên mời thâu sẽ có nhiều cơ hội hơn trong
lựa chọn nhà thầu do số l ợng nhà thầu tham gia nhiều. Đối với công
ty Cát Lâm thì hình thức đấu thầu này vừa thể hiện mặt tích cực vừa
thể hiện mặt tiêu cực. Mặt tích cực thể hiện ở chỗ đó là giúp công
9
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
ty dễ dàng nhận biết đợc thông tin, vừa có thể dễ dàng tham gia vào
đấu thầu, còn mặt tiêu cực đó là tính rộng rãi của loại hình đấu thầu
này đã tạo ra một sự cạnh tranh rất gay gắt bởi có rất nhiều đơn vị
cùng tham gia vào đấu thầu, điều này cũng có nghĩa là cơ hội trúng
thầu của công ty là nhỏ, họ thực sự phải nỗ lực hết sức để tạo ra sức
hấp dẫn đối với chủ đầu t hơn hẳn các đối thủ khác về nhiều mặt.
- Đấu thầu hạn chế
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời
một số nhà thầu có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời
thầu. Danh sách nhà thầu tham dự phải đ ợc ngời có thẩm quyền
hoặc cấp có thẩm quyền chấp nhận. Hình thức này có tần suất xuất
hiện rất ít, tuy nhiên khi tham gia đấu thầu thành công thì những dự
án nh thế này sẽ mang lại danh tiếng cho công ty. Vì có tính hạn
chế nên đòi hỏi nhiều từ chính bản thân công ty một sự nỗ lực rất
lớn trong việc hoàn thiện năng lực của mình nhất là các mặt nh tài
chính, kĩ thuật, phải thờng xuyên tự bồi dỡng đội ngũ cán bộ công
nhân để từng bớc nâng cao kiến thức chuyên môn. Hình thức đấu
thầu này chỉ đợc xem xét áp dụng khi có một trong các điều kiện
sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng đ ợc các yêu cầu của
hồ sơ mời thầu.
+ Các nguồn vốn sử dung yêu cầu phải đấu thầu hạn chế
+ Do tình hình cụ thể của đấu thầu mà việc đấu thầu hạn chế sẽ
mang lại nhiều lợi ích. Ví dụ nh với những dự án mà các nhà thầu
địa phơng có khả năng đáp ứng thì chủ đầu t sẽ giới hạn phạm tham
gia là các nhà thầu địa phơng nhằm mục đích giảm đáng kể các
khoản chi phí không cần thiết có liên quan đến vận chuyển và công
tác bảo trì, bảo dỡng, duy trì hoạt động sau này.
- Chỉ định đấu thầu
Chỉ định đấu thầu là hình đặc biệt, đ ợc áp dụng theo quy định của
điều lệ về quản lý đầu t và xây dựng đối với các gói thầu sử dụng
vốn nhà nớc đợc phép chỉ định thầu. Bên nhà thầu chỉ th ơng thảo
10
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
hợp đồng với một nhà thầu, do ngời có thẩm quyền quyết định đầu
t chỉ định, nếu không đạt đợc yêu cầu mới thơng thảo với nhà thầu
khác.
Hình thức này chỉ đợc áp dụng cho các trờng hợp đặc biệt sau:
+ Trờng hợp bất khả kháng do thiên tai, đợc phép chỉ định ngay đơn
vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Sau đó phải báo
cáo Chính phủ về nội dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt.
+ Gói thầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, do
Thủ tớng Chính phủ quyết định.
+ Gói thầu đặc biệt, do Thủ tớng Chính phủ quyết định trên cơ sở
các thẩm định của bộ kế hoạch và đầu t , ý kiến bằng văn bản của cơ
quan tài trợ vốn và các cơ quan có liên quan.
Trong báo cáo đề nghị của chỉ định thầu phải xác định rõ ba nội
dung sau:
* Lý do chỉ định thầu
* Kinh nghiệm và năng lực về mặt tài chính và kĩ thuật của nhà thầu
đợc đề nghị chỉ định thầu.
* Giá trị và khối lợng đã đợc ngời có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm
quyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu.
3.2 Phơng thức đấu thầu:
Để thực hiện đấu thầu, chủ đầu t có thể áp dụng các phơng thức
sau theo quy định của cơ chế đấu thầu mới(ban hành cùng nghị định
số 88/1999/NĐ-CP).
3.2.1. Đấu thầu một túi hồ sơ(một phong bì)
Khi dự thầu theo phơng thức này, nhà thầu phải nộp đủ những đề
xuất về kĩ thuật, tài chính, giá dự thầu và những điều kiện khác
trong một túi hồ sơ chung. Theo hình thức này cả hai nội dung tài
chính và kĩ thuật đợc mở ra và xét cùng một lúc trong quá trình xét
thầu. Phơng thức này thờng áp dụng cho đấu thầu mua sắm hàng
hoá và xây lắp.
3.2.2. Đấu thầu hai túi hồ sơ(hai phong bì)
11
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
Khi dự thầu theo phơng thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất
về kĩ thuật và những đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng
vào cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất về kĩ thuật sẽ đ ợc xem
xét trớc để đánh giá, xếp hạng. Nhà thầu đợc xếp hạng thứ nhất về
kĩ thuật sẽ đợc xem xét tiếp túi hồ sơ đề xuất về tài chính. Tr ờng
hợp nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về tài chính và các điều kiện
của hợp đồng, bên mời thầu phải xin ý kiến của ng ời có thẩm quyền
quyết định đầu t, nếu đợc chấp nhận mới đợc mời nhà thầu tiếp theo
để xem xét. Hình thức đấu thầu hai túi hồ sơ chỉ đợc áp dụng
đối với đấu thầu tuyển chọn t vấn.
3.2.3. Đấu thầu hai giai đoạn
Phơng thức này áp dụng cho những dự án lớn, phức tạp về công
nghệ và kĩ thuật hoặc dự án thuộc dạng chìa khoá trao tay. Trong
quá trình xem xét, chủ đầu t có điều kiện hoàn thiện yêu cầu về mặt
công nghệ, kĩ thuật và các điều kiện tài chính của hồ sơ mời thầu.
- Giai đoạn thứ nhất:
Các nhà thầu nộp đề xuất về kĩ thuật và phơng án tài chính sơ
bộ(cha có giá) để bên mời thầu xem xét và thảo luận cụ thể với từng
nhà thầu, nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kĩ thuật để nhà
thầu chính thức chuẩn bị và nộp đề xuất kĩ thuật của mình.
- Giai đoạn thứ hai:
Bên mời thầu mời các nhà thầu tham gia trong gia đoạn thứ nhất
nộp đề xuất kĩ thuật đã đợc bổ sung hoàn chỉnh trên cùng một mặt
bằng kĩ thuật và đề xuất đầy đủ các điều kiện tài chính, tiến độ thực
hiện, điều kiện hợp đồng, giá bỏ thầu để đánh giá và xếp hạng.
Phơng thức này đợc áp dụng cho các trờng hợp sau:
+ Các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá trị từ 500 tỷ VN
đồng trở lên.
+ Các gói thầu mua sắm hàng hoá có tính chất lựa chọn công nghệ
thiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kĩ thuật hoặc gói thầu
xây lắp đặc biệt phức tạp.
+ Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khoá trao tay
12
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
Nh vậy, phơng thức đấu thầu hai túi hồ sơ và phơng thức đấu thầu
hai giai đoạn có những nét tơng đồng gần giống nhau nên ta cần có
những phân biệt rõ ràng giữa chúng. Điều khác nhau dễ nhận thấy
nhất đó là trong phơng thức đấu thầu hai túi hồ sơ thì các đề xuất về
kĩ thuật và tài chính đều đợc nộp cùng một lúc trớc thời điểm đóng
thầu. Còn ở đấu thầu hai giai đoạn, đề xuất về kĩ thuật đ ợc nộp trớc
và xét trớc, nếu đạt yêu cầu mới phải nộp đề xuất về tài chính, có
nghĩa là phải có hai thời điểm đóng thầu đối với nhà thầu, một cho
nội dung về kĩ thuật và một cho nội dung về tài chính .
Sở dĩ phải phân biệt rõ ràng nh vậy là nhằm làm tăng hiệu quả của
đấu thầu và lựa chọn đợc nhà thầu tiềm năng nhất, đáp ứng yêu cầu
của bên mời thầu.
4. Văn bản liên quan đến đấu thầu:
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc,
phơng thức đấu thầu ngày càng đợc áp dụng rộng rãi đối với các
công trình mà vốn do nhà nớc cấp hoặc do nớc ngoài đầu t hoặc do
t nhân trong nớc đứng ra tự bỏ vốn Tất cả đều đợc thực hiện trên
cơ sở những quy định chung về xây dựng cơ bản mà Chính phủ ban
hành cùng với các cơ chế đấu thầu đợc Bộ xây dựng- cơ quan quản
lý Nhà nớc về xây dựng cơ bản đã ban hành.
Văn bản đầu tiên về quy chế đấu thầu đợc ban hành từ khi
chuyển sang cơ chế quản lý mới là thông t số 03-BXD/VKT năm
1988 về hớng dẫn tạm thời thực hiện chế độ đấu thầu trong xây
dựng cơ bản.
Ngày 12-2-1990, Bộ xây dựng ban hành quyết định số 24-
BXD/VKT về quy chế đấu thầu xây lắp.
Sau một thời gian thực hiện, ngày 03-03-1994, bộ xây dựng đã
ban hành quyết định số 60-BXD/VKT.
Ngày 17-06-1996 Chính phủ đã ban hành nghị định 43-CP về
quy chế đấu thầu.
13
Chuyên đề tốt nghiệp Lê Văn Huy
Tuy nhiên, do những yêu cầu mới đặt ra của hoạt động xây dựng
nói chung và hoạt động đấu thầu nói riêng ngày 01-09-1999 Chính
phủ ban hành nghị định 88/1999/NĐ-CP về quy chế đấu thầu
Ngày 05-05-2000, Chính phủ tiếp tục ban hành nghị định số
14/2000/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của cơ chế đấu
thầu ban hành kèm theo nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01-09-
1999 của Chính phủ.
Ngày 26-05-2000, Bộ kế hoạch và đầu t ban hành thông t
04/2000/TT-BKH về hớng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu. Trên
cơ sở thông t này, một số bộ, ngành khác có liên quan cũng đã ban
hành một số thông t có liên quan đến công tác đấu thầu, ví dụ nh
ngày 21-03-2001 Bộ tài chính ra thông t số 17/2001/TT-BTC về h-
ớng dẫn chế độ quản lý và sử dụng lệ phí thẩm định kết quả đầu t .
Trên đây là những văn bản pháp quy có giá trị hiện hành, mặc dù
còn có nhiều tranh luận xung quanh những văn bản này nhng có thể
khẳng định rằng đó là những cơ sở pháp lý quan trọng, đáp ứng kịp
thời nhu cầu của các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị làm công
tác quản lý và thực hiện đầu t xây dựng (bao gồm cả đấu thầu) trong
cả nớc. Qua việc liệt kê các văn bản này cho thấy chính phủ đã rất
quan tâm đến việc hoàn thiện quy chế đấu thầu, không ngừng thay
thế bổ sung thêm những quy định mới một mặt tạo điều kiện cho
công tác đấu thầu diễn ra tốt đẹp và đạt hiệu quả mặt khác đảm bảo
lợi ích cho các bên khi tham gia đấu thầu. Do vậy, công ty cần phải th ờng
xuyên cập nhật đầy đủ những thông tin này để bổ sung kiến thức về đấu
thầu cho toàn thể cán bộ công ty, tạo điều kiện cho công tác lập hồ sơ dự
thầu khi tham gia đấu thầu.
5. Quá trình tham gia đấu thầu:
5.1 Trình tự tổ chức đấu thầu
Theo nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày01-09-1999 thì tổ chức
đấu thầu đợc thực hiện theo các bớc sau:
1, Sơ tuyển nhà thầu (nếu có)
2, Lập hồ sơ mời thầu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét