Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI và CUỘC TRANH HÙNG GIỮA COCA & PEPSI

Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Chương I. LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI VÀ CHIẾN LƯỢC CẠNH
TRANH
1. Trò chơi và quyết định chiến lược:
Trước hết chúng ta phải làm rõ tham gia cuộc chơi và ra quyết định chiến lược là gì?
Thực chất chúng ta quan tâm đến các câu hỏi sau: nếu tôi tin rằng các đối thủ cạnh tranh
của tôi là những người có lý trí và hành động để tối đa hóa lợi nhuận của họ, thì tôi phải
tính đến hành vi của họ như thế nào khi ra quyết định tối đa hóa lợi nhuận của mình?
* Trò chơi hợp tác và bất hợp tác:
Trò chơi kinh tế mà các hãng tham gia có thể mang tính chất hợp tác hoặc bất hợp
tác. Một trò chơi là hợp tác nếu những người chơi có thể đàm phán những cam kết ràng
buộc lẫn nhau cho phép họ cùng lập các kế hoạch chiến lược chung. Một trò chơi là bất
hợp tác nếu không thể đàm phán và thực thi có hiệu lực các cam kết ràng buộc.
Một ví dụ về một trò chơi hợp tác gồm hai hãng trong một ngành, đàm phán về việc
góp vốn đầu tư để phát triển công nghệ mới (khi không hãng nào có đủ năng lực để tự
mình nghiên cứu thành công được). Nếu các hãng có thể ký một cam kết ràng buộc để chia
lợi nhuận từ việc đầu tư chung của họ thì có thể có được một kết quả hợp tác làm cho hai
bên đều được lợi.
Một ví dụ về trò chơi bất hợp tác là một tình huống trong đó hai hãng cạnh tranh
tính đến hành vi của nhau và xác định chiến lược định giá và quảng cáo một cách độc lập
để chiếm được thị phần.
Lưu ý rằng, sự khác nhau cơ bản giữa trò chơi hợp tác và bất hợp tác nằm ở các khả
năng tương phản nhau. Trong trò chơi hợp tác, có thể đi đến các cam kết ràng buộc, còn
trong trò chơi bất hợp tác thì không.
2. Các chiến lược ưu thế:
Chúng ta có thể chọn chiến lược tốt nhất như thế nào để chơi? Chúng ta có thể xác
định các kết cục có thể có của trò chơi như thế nào? Chúng ta cần một cái gì đó giúp chúng
ta xác định cách thức mà một hành vi hợp lý của mỗi người chơi sẽ dẫn đến giải pháp cân
bằng. Một số chiến lược có thể thành công nếu các đối thủ cạnh tranh thực hiện những sự
lựa chọn nhất định nhưng sẽ thất bại nếu họ lựa chọn khác đi. Nhưng có những chiến lược
có thể thành công bất kể các đối thủ cạnh tranh lựa chọn làm gì. Chúng ta bắt đầu bằng
khái niệm chiến lược ưu thế-một chiến lược tối ưu đối với người chơi, bất kể đối thủ
có phản ứng thế nào đi chăng nữa.
Ví dụ sau đây minh họa điều này trong một tình huống lưỡng độc quyền. Giả sử các
hãng A và B bán các sản phẩm cạnh tranh và đang quyết định có nên mở một chiến dịch
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 5
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
quảng cáo không. Nhưng mỗi hãng lại bị ảnh hưởng bởi quyết định của đối thủ cạnh tranh.
Các kết cục có thể có của trò chơi này được minh họa bằng một ma trận lợi ích ở bảng 13.1
(ma trận lợi ích tóm tắt những kết quả có thể có của một trò chơi; số thứ nhất trong mỗi ô
là kết cục của A và số thứ hai là kết cục của B). Quan sát từ ma trận lợi ích này cho thấy,
nếu cả hai hãng cùng quyết định quảng cáo thì hãng A sẽ có lợi nhuận bằng 10 và hãng B
sẽ có lợi nhuận bằng 5. Nếu hãng A quảng cáo và hãng B không thì hãng A sẽ thu được 15,
hãng B thu được 0. Và tương tự cho hai khả năng còn lại.
Bảng 13.1. Ma trận lợi ích cho trò chơi quảng cáo:
Quảng cáo Không quảng cáo
Quảng cáo 10;5 15;0
Không quảng cáo 6;8 10;2
Mỗi hãng nên chọn chiến lược như thế nào? Trước hết hãy xét hãng A, rõ ràng là
nên quảng cáo, vì cho dù là hãng B làm gì thì hãng A cũng được lợi nhất nếu quảng cáo
(nếu hãng B quảng cáo, hãng A sẽ thu được lợi nhuận bằng 10 nếu quảng cáo, nhưng chỉ
bằng 6 nếu không quảng cáo. Còn nếu hãng B không quảng cáo, hãng A sẽ thu được 15
nếu quảng cáo, nhưng chỉ 10 nếu không quảng cáo). Như vậy, quảng cáo là chiến lược
ưu thế đối với hãng A. Với hãng B cũng thế, bất kể hãng A làm gì, hãng B cũng được
lợi nhất khi quảng cáo. Vì vậy, giả định rằng cả hai hãng đều là người có lý trí, chúng ta
biết chắc rằng kết cục của trò chơi này là cả hai hãng sẽ cùng quảng cáo. Kết cục này rất
dễ xác định vì cả hai hãng đều có chiến lược ưu thế.
3. Cân bằng Nash:
Để xác định kết cục có thể có của trò chơi, chúng ta đã tìm các chiến lược “tự xác
định” hoặc “ổn định”. Các chiến lược ưu thế là các chiến lược ổn định, nhưng trong nhiều
trò chơi một hoặc nhiều người chơi có thể không có chiến lược ưu thế. Vì thế, chúng ta cần
một khái niệm cân bằng có tính chất tổng quát hơn.
Cân bằng Nash là một tập hợp các chiến lược (hoặc các hành động) mà người chơi
có thể làm điều tốt nhất cho mình, khi cho trước hành động của các đối thủ, mỗi
người chơi không có động cơ xa rời chiến lược Nash của mình nên các chiến lược này là
các chiến lược ổn định. Ví dụ:
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 6
Hãng B
Hãng A
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Quảng cáo Không quảng cáo
Quảng cáo 10;5 15;0
Không quảng cáo 6;8 20;2
Cân bằng Nash là cả hai hàng đều quảng cáo. Đó là cân bằng Nash bởi vì cho trước
quyết định của đối thủ, mỗi hãng đều bằng lòng là mình đã ra một quyết định tốt nhất có
thể có và không có động cơ thay đổi quyết định của mình.
So sánh khái niệm cân bằng Nash với cân bằng trong các chiến lược ưu thế:
- Các chiến lược ưu thế: Tôi đang làm điều tốt nhất có thể được cho tôi, bất kể bạn
có làm gia đi nữa. Bạn đang làm điều tốt nhất có thể được cho bạn, bất kể tôi làm gì đi nữa.
- Cân bằng Nash: Tôi đang làm điều tốt nhất có thể được, cho trước cái bạn đang
làm. Bạn đang làm điều tốt nhất có thể được, cho trước cái tôi đang làm.
4. Các chiến lược cực đại tối thiểu (maximin):
Khái niệm cân bằng Nash dựa chủ yếu vào tính có lý trí cá nhân. Sự lựa chọn chiến
lược của mỗi người chơi không chỉ phụ thuộc vào tính có lý trí của họ mà còn vào tính hợp
lý của đối thủ. Đây có thể là một hạn chế, như ví dụ sau cho thấy:

Trái Phải
Trên 1,0 1,1
Dưới -1000,0 2,1
Trong trò chơi này, chơi “bên phải” là một chiến lược ưu thế đối với người chơi 2
vì việc sử dụng chiến lược này, người chơi 2 sẽ được lợi hơn (thu được 1 chứ không phải
bất kể người chơi 1 có làm gì đi nữa. Như vậy, người chơi 1 sẽ dự kiến rằng người chơi 2
chơi chiến lược “bên phải”. Trong trường hợp này, người chơi 1 sẽ được lợi hơn bằng việc
chơi chiến lược “bên dưới” (và thu được 2) chứ không phải là chơi “bên trên” (và thu được
1). Rõ ràng, (dưới, phải) là cân bằng Nash của trò chơi này. Nhưng lưu ý rằng, người chơi
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 7
Người chơi 1
Hãng A
Hãng B
Người chơi 2
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
1 phải biết người chơi 2 hiểu trò chơi và là người có lý trí. Nếu người chơi 2 tình cờ bị lỗi
thì sẽ cực kỳ thiệt hại cho người chơi 1.
Nếu là người chơi 1, bạn sẽ làm gì? Nếu bạn là người thận trọng và lo ngại rằng
việc người chơi 2 có thể không được thông tin đầy đủ hoặc không có lý trí, bạn có thể chọn
chơi “bên trên”. Trong trường hợp đó, bạn chắc chắn sẽ được 1 và bạn không có cơ hội
mất 1000. Chiến lược như thế gọi là chiến lược cực đại tối thiểu vì nó cực đại hóa cái
lợi tối thiểu có thể thu được. Nếu cả hai người chơi cùng sử dụng chiến lược cực đại tối
thiểu thì kết cục sẽ là (trên, phải). Chiến lược cực đại tối thiểu là chiến lược thận trọng,
nhưng không phải là tối đa hoá lợi nhuận (vì người chơi 1 thu được lợi nhuận bằng 1 chứ
không phải là 2). Lưu ý rằng, nếu người chơi 1 biết chắc rằng người chơi 2 sử dụng chiến
lược cực đại tối thiểu thì người này sẽ thích chơi “bên dưới” (và thu được 2), thay vì theo
chiến lược cực đại tối thiểu là chơi “bên trên”.
5. Các chiến lược hỗn hợp
Trong tất cả các trò chơi chúng ta đã nghiên cứu trên đây, chúng ta đã xem xét các
chiến lược mà trong đó những người chơi thực hiện những sự lựa chọn cụ thể hoặc có
những hành động cụ thể: quảng cáo hoặc không quảng cáo, đặt giá bằng 4 đôla hoặc 6 đôla
… Các chiến lược thuộc loại này được gọi là chiến lược thuần tuý. Tuy nhiên, có những trò
chơi trong đó các chiến lược thuần tuý không phải là cách tốt nhất để chơi.
Một ví dụ là trò chơi “Sấp – Ngửa”. Trong trò chơi này, mỗi người chơi phải chọn
một mặt sấp hoặc ngửa và hai người chơi đều mở những đồng xu của mình cùng một lúc.
Nếu các đồng xu giống nhau (nghĩa là cả hai cùng sấp hoặc cùng ngửa), người chơi A sẽ
thắng và nhận được một đôlà từ người chơi B. Nếu đồng xu không giống nhau, người chơi
B sẽ thắng và nhận được một đôlà từ người chơi A. Ma trận lợi ích được biểu thị như sau:

Ngửa Sắp
Ngửa 1,-1 -1,1
Sấp -1,1 1,-1
Lưu ý rằng, không có cân bằng Nash trong các chiến lược thuần tuý của trò chơi
này. Ví dụ, giả sử rằng người chơi A muốn chọn cách để đồng xu ngửa. Nhưng nếu người
chơi B để đồng xu của mình sấp thì người A cũng sẽ muốn để đồng xu của mình sấp.
Không có kết hợp sấp hoặc ngửa nào làm cho cả hai người chơi cùng thoả mãn, như vậy
không ai trong họ thay đổi chiến lược.
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 8
Người chơi A
Người chơi B
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Mặc dù không có cân bằng Nash trong các chiến lược thuần tuý nhưng có cân bằng
Nash trong chiến lược hỗn hợp. Một chiến lược hỗn hợp là chiến lược trong đó người
chơi thực hiện một sự lựa chọn ngẫu nhiên giữa hai hoặc nhiều hành động có thể có,
dựa trên một tác hợp các xác suất đã chọn. Ví dụ, trong trò chơi này, người chơi A có
thể chỉ đơn giản là tung đồng xu, mà xác suất hiện mặt ngửa là ½ và xác suất rơi sấp ½.
Thực tế, nếu người A theo chiến lược này và người B cũng thế thì chúng ta sẽ có cân bằng
Nash: cả hai người chơi đểu làm điều tốt nhất cho mình, cho trước hành động mà đối thủ
đang làm. Lưu ý rằng, kết quả trò chơi là ngẫu nhiên, nhưng lợi ích kỳ vọng là 0 cho mỗi
người chơi. Có thể thấy khi chơi bằng cách hàng động một cách ngẫu nhiên, bạn hãy đặt
mình vào vị trí của người chơi A và nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu bạn theo một chiến lược
khác với việc tung đồng xu, giả sử rằng bạn quyết định để đồng xu ngửa. Nêu người chơi
B biết điều này, thì B sẽ tung đồng xu sấp, và bạn sẽ thua. Ngay cả khi B không biết chiến
lược của bạn, nếu trò chơi lặp đi lặp lại, B sẽ nhận ra cách chơi của bạn và chọn chiến lược
đối phó lại cách chơi đó. Tuy nhiên, khi đó bạn cũng muốn thay đổi chiến lược của mình –
đó là lý do tại sao đây không phải là cân bằng Nash. Chỉ khi bạn và đối thủ của bạn cùng
chọn ngửa hoặc sấp một cách ngẩu nhiên với xác suất ½ thì không ai trong các bạn có động
cơ thay đổi chiến lược của mình.
6. Các trò chơi tuần tự:
Trong phần lớn các trò chơi đến nay chúng ta đã thỏa thuận là cả hai người chơi
cùng đi một lúc. Như chúng ta sẽ thấy, trò chơi tuần tự thường dễ phân tích hơn các trò
chơi trong đó các người chơi đi cùng một lúc. Trong trò chơi tuần tự, điểm then chốt là
phải nghĩ đến hết các hành động có thể có và các phản ứng hợp lý của mỗi người chơi.
Với một ví dụ đơn giản, trong trò chơi đó, có hai công ty trong một thị trường trong
đó hai dạng đồ ăn sáng mới có thể tung ra thành công trên thị trường, nếu mỗi hãng chỉ
đưa ra một loại. Bây giờ chúng ta có ma trận lợi ích như sau:

Đồ ăn giòn Đồ ăn ngọt
Đồ ăn giòn -5;-5 10;20
Đồ ăn ngọt 20;10 -5;-5
Đồ ăn ngọt mới chắc chắn là bán chạy hơn đồ ăn giòn mới, thu được lợi nhuận là 20
chứ không phải là 10 (có thể vì người tiêu dùng thích những thứ ngọt hơn những thứ giòn).
Nhưng cả hai loại đồ ăn mới điều có lãi chừng nào mỗi hãng chỉ tung ra một loại sản
phẩm.
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 9
Hãng 1
Hãng 2
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Giả sử rằng cả hai hãng, không cần biết kế hoạch của đối thủ ra sao, phải thông báo
độc lập và đồng thời các quyết định của mình. Thế thì cả hai hãng có thể tung ra đồ ăn ngọt
và cả hai sẽ cùng lỗ vốn.
Bây giờ, giả sử rằng hãng 1 có thể tung ra đồ ăn ngọt trước. (có thể do nó có thể
thúc đẩy sản xuất nhanh hơn), Bây giờ, chúng ta có trò chơi tuần tự: hãng 1 đưa ra một loại
đồ ăn mới và sau đó đến hãng 2. Kết quả của trò chơi này sẽ là gì? Khi ra quyết định hãng
1 phải cân nhắc phản ứng hợp lý của đối thủ cạnh tranh. Nó biết rằng dù nó có tung ra loại
đồ ăn nào đi chăng nữa thì hãng 2 cũng sẽ phản ứng lại bằng việc tung ra loại khác. Vì thế
nó sẽ đưa ra đồ ăn ngọt, biết rằng hãng 2 sẽ phản ứng lại bằng việc tung đồ ăn giòn.
• Dạng mở rộng của trò chơi:
Kết cục này có thể suy ra từ ma trận lợi ích nêu trên, nhưng đôi khi sẽ dễ hình dung
ra trò chơi tuần tự hơn nếu chúng ta biểu thị các nước đi dưới dạng cây quyết định. Dạng
này được gọi là dạng mở rộng của trò chơi và được thể hiện như sau:
Hình này cho biết những sự lựa chọn có thể có của hãng 1 (đưa ra đồ ăn giòn hoặc
ngọt) và những phản ứng có thể có của hãng 2 trước mỗi sự lựa chọn này. Ma trận lợi ích
được biểu thị ở cuối mỗi nhánh cây. Ví dụ, nếu hãng 1 đưa ra đồ ăn giòn và hãng 2 phản
ứng lại bằng việc cũng đưa ra đồ ăn giòn thì mỗi hãng sẽ có kết cục là -5.
Để tìm ra giải pháp cho trò chơi dạng mở rộng, phải đi ngược từ cuối lên trên. Đối
với hãng 1, trình tự tốt nhất của các nước đi là kết quả trong đó nó thu được 20 và hãng 2
thu được 10. Như vậy, có thể suy ra là nó nên sản xuất đồ ăn ngọt, vì khi đó phản ứng tốt
nhất của hãng 2 là sản xuất đồ ăn giòn.
7. Quyết tâm, Đe dọa, và Độ tin cậy
“Nước đi chiến lược là nước đi ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người khác theo
cách có lợi cho mình, bằng cách gây ảnh hưởng đến dự kiến của người khác về cách thức
mình sẽ ứng xử. Có thể ràng buộc sự lựa chọn của đối phương bằng việc ràng buộc hành vi
của chính bản thân mình”.
Ý tưởng về ràng buộc hành vi của bản thân để được lợi thế có vẻ như nghịch lý
nhưng không phải như vậy. Chúng ta hãy xem xét ví dụ:
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 10
Hãng 1
Giòn
Ngọt
Hãng 2
Hãng 2
Giòn
Ngọt
Giòn
Ngọt
-5;-5
10;20
20;10
-5;-5
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Đồ ăn giòn Đồ ăn ngọt
Đồ ăn giòn -5, -5 10, 20
Đồ ăn ngọt 20, 10 -5, -5
Hãng 1 phải ràng buộc hành vi của mình – hãng 2 phải bị thuyết phục rằng hãng 1
không có sự lựa chọn nào ngoài việc sản xuất đồ ăn ngọt. Một hành động như thế của hãng
1 có thể gồm chiến dịch quảng cáo tốn kém để mô tả chi tiết về đồ ăn ngọt mới trước khi
nó được đưa ra, nhờ đó tạo danh tiếng cho hãng1. Hãng 1 cũng có thể ký một hợp đồng
tương lai về một loại đường lớn (và công bố công khai hợp đồng đó, hoặc ít nhất là gửi 1
bản sao cho hãng 2). Ý đồ là cho thấy hãng 1 đã quyết tâm sản xuất đồ ăn ngọt. Kiểu
quyết tâm như thế này là một bước đi chiến lược, sẽ làm cho hãng 2 đưa ra quyết định mà
hãng 1 muốn hãng 2 làm – sản xuất đồ ăn giòn.
Tại sao hãng 1 không chỉ đơn giản là đe dọa hãng 2, và thề sẽ sản suất đồ ăn ngọt
ngay cả khi hãng 2 cũng làm như thế? vì hãng 2 có ít lý do để tin vào sự đe dọa và cũng
đưa ra sự đe dọa tương tự. Đe dọa chỉ hữu ích nếu có đủ độ tin cậy. Ví dụ sau giúp làm
rõ điều này.
Giá cao Giá thấp
Giá cao 100, 80 80, 100
Giá thấp 20, 0 10, 20
Đe dọa suông
Hãng 1 sẽ thích kết cục ở góc trên bên trái của ma trận hơn. Nhưng đối với hãng 2,
việc đặt giá thấp rõ ràng là một chiến lược ưu thé . Như vậy, kết quả ở góc trên bên phải sẽ
xuất hiện (không phụ thuộc vào hãng nào đặt giá trước).
Hãng 1 có thể được coi là hãng “ưu thế” trong ngành vì các hành động đặt giá của
nó sẽ ảnh hưởng lớn nhất đến lợi nhuận của cả ngành. Khi đó, có phải là hãng 1 không
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 11
Hãng 2
Hãng 1
Hãng 2
Hãng 1
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
phải làm hãng 2 đặt giá cao bằng sự đe dọa rằng mình sẽ đặt giá thấp nếu hãng 2 đặt giá
thấp hay không? Không như ma trận ở ví dụ trên đã chỉ rõ. Dù hãng 2 làm gì đi nữa thì
hãng 1 sẽ bị thiệt nhiều nếu nó đặt giá thấp. Do đó, sự đe dọa của nó không đáng tin cậy.
Quyết tâm và độ tin cậy
Đôi khi các hãng đưa ra một sự đe dọa đáng tin cậy. Để thấy vấn đề này như thế
nào hãy xét ví dụ sau. Race Car Motors, Inc., sản xuất ô tô, và Far Out Engines, Ltd., sản
xuất động cơ ô tô chuyên dùng. Far Out Engines bán phần lớn động cơ của mình cho Race
Car Motors và một phần nhỏ cho thị trường bên ngoài rất hạn hẹp. Mặc dù vậy, nó phụ
thuộc nhiều vào Race Car Motors và đưa ra các quyết định sảnn xuất của mình tùy theo kế
hoạch sản xuất của Race Car Motors
Ô tô nhỏ Ô tô lớn
Động cơ nhỏ 3; 6 3; 0
Động cơ lớn 1; 1 8; 3
Giả sử Far Out Engines đe dọa rằng, nó sẽ sản xuất động cơ lớn bất kể Race Car
Motors làm gì, và không có người sản xuất động cơ nào khác có thể dễ dàng thỏa mãn nhu
cầu của Race Car Motors. Nếu Race Car Motors tin vào điều đó thì nó sẽ sản xuất ô tô lớn,
vì nó có thể gặp khó khăn trong việc tìm ra động cơ cho các ô tô nhỏ của mình, và chỉ thu
được lợi nhuận là 1 triệu đô la thay vì 3 triệu đô la. Nhưng sự đe dọa đó không đáng tin
cậy. Một khi Race Car Motors thông báo sản xuất ô tô nhỏ của mình thì Far Out Engines
không có động cơ thực hiện sự đe dọa của mình.
Ô tô nhỏ Ô tô lớn
Động cơ nhỏ 0; 6 0; 0
Động cơ lớn 1; 1 8; 3
Race Car Motors biết rằng dù nó sản xuất loại ô tô nào thì Far Out Engines cũng sản
xuất động cơ lớn. Bây giờ, rõ ràng Race Car Motors muốn sản xuất ô tô lớn. Bằng việc
thực hiện một bước đi chiến lược dường như đặt mình vào thế bất lợi, Far Out Engines đã
cải thiện được kết cụa của trò chơi.
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 12
Race Car Motors
Far Out Engines
Race Car Motors
Far Out Engines
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Việc tạo dựng hình ảnh cho mình có thể là một chiến lược đặc biệt quan trọng trong
trò chơi lặp lại. Một hãng có thể thấy có lợi thế nếu cư xử bất hợp lý trong một số lần chơi.
Điều này có thể tạo cho nó một số hình ảnh cho phép nó tăng lợi nhuận dài hạn lên đáng
kể.
1.7 Ngăn chặn sự gia nhập
Lý do ngăn chặn sự gia nhập: tạo ra lợi nhuận và sức mạnh độc quyền
Cách thức ngăn chặn sự gia nhập: hãng đang ở trong ngành phải thuyết phục được đối thủ
canh tranh tiềm năng rằng sự gia nhập sẽ không có lợi.

Hãng gia nhập tiềm năng nghĩ rằng hãng trong ngành thích ứng và duy trì giá cao sau
khi có sự gia nhập, hãng này sẽ thấy là có lợi nếu gia nhập và sẽ làm như thế. Giả sử hãng
trong ngành đe dọa sẽ mở rộng sản lượng và mở cuộc chiến tranh về giá cả để không gia
nhập ngành. Nếu tin vào đe dọa, sẽ không gia nhập ngành vì dự kiến là tổn thất 10 triệu đô
la. Nhưng mối đe dọa là không đáng tin cậy, một khi có sự gia nhập thì điều tốt nhất là
thích ứng và duy trì giá cao. Nước đi hợp lý là gia nhập thị trường; kết quả sẽ là góc trên
bên trái của ma trận
Bây giờ sự đe dọa rằng sẽ tham gia vào chiến tranh giá cả cạnh tranh nếu sự gia
nhập xảy ra là đáng tin cậy hoàn toàn vì đó là kết quả của việc đầu tư mở rộng năng lực
sản xuất. Vì thế duy trì giá cao và thu được lợi nhuận 70 triệu đô la nhờ đã ngăn chặn được
sự gia nhập. Bằng việc tạo dựng một hình ảnh về tính phi lý và hiếu chiến, một hãng đang
ở trong ngành có thể thuyết phục nhhững người gia nhập tiềm năng rằng, nguy cơ có 1
cuộc chiến tranh giá cả là rất cao.
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 13
Gia nhập Đứng ngoài
Giá cao (thích ứng) 50, 10 100, 0
Giá thấp (gây chiến tranh giá cả) 30, -10 40, 0
Hãng đang
ở trong ngành
Hãng gia nhập tiềm năng
Tiểu luận Kinh Tế Vi Mô GVHD: Ts Hay Sinh
Chuơng II. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY COCA VÀ CÔNG TY PEPSI
VIỆT NAM
1. Lịch sử về công ty coca cola Việt Nam.
Công ty Coca-Cola là công ty nước giải khát lớn nhất thế giới với hơn 450 thương hiệu
sáng giá. Cùng với Coca-Cola - thương hiệu được thừa nhận là giá trị nhất thế giới, danh
mục vốn đầu tư của công ty cũng bao gồm 12 thương hiệu khác trị giá hàng tỉ đô la đó là
Diet Coke, Fanta, Sprite, Coca-Cola Zero, Vitaminwater, Pererade, Minute Maid và
Georgia Coffee. Trên qui mô toàn cầu, Coca-Cola là nhà cung cấp số 1 thế giới về nước
uống, nước ép và các đồ uống làm từ nước ép, trà và cà phê pha sẵn. Thông qua hệ thống
phân phối nước giải khát lớn nhất thế giới, mỗi ngày gần 2 tỷ lượt người thưởng thức các
loại nước giải khát của Coca-Cola ở hơn 200 quốc gia. Với cam kết lâu dài đối với việc
xây dựng cộng đồng lành mạnh, công ty tập trung vào những sáng kiến giúp bảo vệ môi
trường, bảo tồn tài nguyên và tăng cường phát triển kinh tế cộng đồng ở bất kì nơi nào
công ty hoạt động.
Kể từ khi quay lại thị trường Việt Nam từ năm 1994, Công ty Coca-Cola đã đầu tư hơn
200 triệu đô la Mỹ cho thị trường này và có các nhà máy đóng chai ở Hà Tây, Đà Nẵng và
TP. Hồ Chí Minh. Công ty Coca-Cola cung cấp cho người tiêu dùng Việt Nam nhiều
thương hiệu nước giải khát nổi tiếng như Coca-Cola, Sprite, Fanta, Thumbs Up, Coca-Cola
Light (cho người ăn kiêng), Schweppes; cùng các sản phẩm mới như nước cam có tép
Minute Maid Splash, nước uống tinh khiết đóng chai Joy và nước tăng lực Samurai.
Giới thiệu lần đầu tiên tại Việt Nam từ năm 1960 và đã trở lại từ tháng 2 năm 1994, sau
khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại.
 1960: Lần đầu tiên Coca Cola được giới thiệu tại Việt Nam.
 Tháng 2 năm 1994: Coca Cola trở lại Việt Nam và bắt đầu
quá trình kinh doanh lâu dài.
 Tháng 8 năm 1995: Liên Doanh đầu tiên giữa Coca Cola
Đông Dương và công ty Vinafimex được thành lập, có trụ sở
tại miền Bắc.
 Tháng 9 năm 1995: Một Liên Doanh tiếp theo tại miền Nam mang tên Công ty
Nước Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca
Cola và công ty Chương Dương của Việt Nam.
 Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung Coca Cola
Non Nước. Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca Cola Đông Dương tại
Việt Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng.
Nhóm 10- Lớp KTViMo Đêm 1 Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét